Chương 1 trình bày về tính cấp thiết của đề tài này làm đề tài nghiên cứu luận văn. Trong chương này nói rõ về mục tiêu nghiên cứu, không gian, thời gian, phương pháp nghiên cứu và nội dung nghiên cứu. Từ đó, đưa ra những đóng góp mới của đề tài này đối với Công ty TNHH nước mắm Thiên Hương. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Thương hiệu và các vấn đề liên quan đến thương hiệu a.
Khái niệm thương hiệu Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): Thương hiệu là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức. Đối với doanh nghiệp, thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ với dấu hiệu của doanh nghiệp gắn lên bề mặt sản phẩm dịch vụ nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ. Thương hiệu là một tài sản vô hình quan trọng và đối với các doanh nghiệp lớn, giá trị thương hiệu của doanh nghiệp chiếm một phần đáng kể trong tổng giá trị của doanh nghiệp. Theo Hiệp Hội Marketing Hoa Kỳ (dẫn theo Nguyền Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, (2007)), Philip Kotler (1995, dẫn theo Trương Đình Chiến, (2005)) thương hiệu là một cái tên, thuật ngữ, biểu tượng, ký hiệu, kiểu dáng hay một sự phối hợp của các yếu tố trên nhằm mục đích để nhận dạng sản phẩm hay dịch vụ của một nhà sản xuất và phân biệt với các thương hiệu của đối thủ cạnh tranh.
Ambler & Styles (1996, dẫn theo Nguyễn Đình Tho và Nguyễn Thị Mai Trang, (2007)), thương hiệu là một tập các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Thương hiệu theo quan điểm này cho rằng, sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng. Như vậy các thành phần marketing hỗn hợp (sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị) cũng là các thành phần của một thương hiệu. Theo Hiệp hội nhãn hiệu thương mại quốc tế ITA (International Trademark Association): Thương hiệu bao gồm những từ ngữ, tên gọi, biểu tượng hay bất kì sự kết hợp nào giữa các yếu tố trên được dùng trong thương mại để xác định và phân biệt hàng hoá của các nhà sản xuất hoặc người bán với nhau và để xác định nguồn gốc của hàng hoá đó.
Thương hiệu là thuật ngữ được dùng để chỉ bất cứ yếu tố gì (tên gọi, biểu tượng, mùi vị, âm thanh, biểu ngữ,.) mà doanh nghiệp dùng để chỉ định sản phẩm, dịch vụ của mình hoặc chính mình trên thị trường. Nó có thể là cả những yếu tố không được pháp luật bảo hộ và những yếu tố được pháp luật bảo hộ nhưng không dưới danh nghĩa nhãn hiệu như tên thương mại, chỉ dẫn địa lý,. Thương hiệu là một hình ảnh độc đáo và rõ nét trong nhận thức của khách hàng, đem đến cho họ những lợi ích đặc biệt khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ được sản xuất hoặc cung cấp bởi một Công ty đặc biệt. Sẽ là sai lầm khi nghĩ rằng một thương hiệu chỉ thật sự là thương hiệu khi nó tồn tại ở mọi nơi xung quanh người tiêu dùng, chứ không phải trong suy nghĩ của họ.
7 Ở Việt Nam, khái niệm thương hiệu thường được hiểu đồng nghĩa với nhãn hiệu hàng hóa. Tuy nhiên, trên thực tế khái niệm thương hiệu được hiểu rộng hơn nhiều, nó có thể là bất kỳ cái gì gắn liền với sản phẩm hay dịch vụ nhằm làm cho chúng được nhận diện dễ dàng và khác biệt hóa với các sản phẩm hay dịch vụ cùng loại. Vai trò của thương hiệu Thương hiệu có vai trò ngày càng quan trọng trong kinh doanh. Việc gắn thương hiệu cho sản phẩm mang lại lợi ích rất lớn đối với khách hàng và doanh nghiệp.
Đối với cộng đồng: Thương hiệu không chỉ là tài sản của doanh nghiệp mà còn là tài sản quốc gia. Khi thâm nhập thị trường quốc tế, thương hiệu hàng hóa thường gắn với hình ảnh quốc gia thông qua nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, đặc tính của sản phẩm. Đối với khách hàng: Thương hiệu xác định nguồn gốc sản phẩm hoặc nhà sản xuất của một sản phẩm và giúp khách hàng xác định nhà sản xuất cụ thể hoặc nhà phân phối nào chịu trách nhiệm đối với sản phẩm được phân phối trên thị trường. Thương hiệu là một công cụ giúp khách hàng quyết định trong việc mua sắm.
Nếu khách hàng nhận ra một thương hiệu và có một vài kiến thức về thương hiệu đó, khách hàng không phải suy nghĩ nhiều hoặc tìm kiếm thông tin để ra quyết định tiêu dùng sản phẩm đó. Điều này, giúp khách hàng tiết kiệm chi phí thời gian và công sức tìm kiếm sản phẩm. Ngoài ra, thương hiệu có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc báo hiệu những đặc điểm và thuộc tính sản phẩm tới khách hàng. Đối với doanh nghiệp: Xây dựng một thương hiệu mạnh mang đến cho doanh nghiệp lợi thế rất to lớn, không chỉ vì nó tạo ra hình ảnh của sản phẩm và doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo uy tín cho sản phẩm và doanh nghiệp.
Nó thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hoá và là vũ khí sắc bén trong cạnh tranh. Với một thương hiệu mạnh, người tiêu dùng sẽ có niềm tin với sản phẩm của doanh nghiệp, sẽ yên tâm và tự hào khi sử dụng sản phẩm, trung thành với sản phẩm và vì vậy tính ổn định về lượng khách hàng hiện tại là rất cao. Với một thương hiệu mạnh, doanh nghiệp sẽ có được thế đứng vững chắc trong các cuộc cạnh tranh khốc liệt của thị trường về giá, phân phối sản phẩm, thu hút vốn đầu tư, thu hút nhân tài. Thương hiệu mạnh còn đem lại những lợi ích tài chính cho doanh nghiệp vì có thể làm tăng lợi nhuận và lãi cổ phần.
Họ coi đó là một công cụ quản lý có thể tạo ra giá trị trong kinh doanh.2 Hệ thống nhận diện thương hiệu Nguyễn Quốc Thịnh, Nguyễn Thành Trung (2012), hệ thống nhận diện thương hiệu bao gồm các quy định sử dụng màu sắc, tên gọi, cách thức sắp xếp và bố trí các nội dung thông điệp của thương hiệu, sự thống nhất của tất cả các điểm đối thoại thương hiệu (brand touchpoints) theo một hình thức đồng nhất khiến khách hàng có thể liên tưởng được đến thương hiệu về mặt hình ảnh và sâu sắc hơn về mặt nhân cách thương hiệu. 8 Phan Đình Quyền và cộng sự (2010), cho rằng hệ thống nhận diện thương hiệu là một hệ thống các công cụ tác động vào giác quan của khách hàng nhằm giúp họ nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy thương hiệu và hệ thống nhận diện thương hiệu bao gồm các công cụ như: Tên của thương hiệu: Là công cụ nền tảng và đầu tiên dùng để nhận dạng và phân biệt chủ thể này và chủ thể khác trong kinh doanh. Logo hay biểu tượng: Là công cụ nhận dạng bổ sung cho tên và cùng với tên được sử dụng để phân biệt, định vị cho thương hiệu. Câu khẩu hiệu (slogan): Là một đoạn văn ngắn truyền tải thông tin thuyết phục về thương hiệu dùng để quảng cáo và định vị cho thương hiệu.
Nhạc hiệu, âm thanh: Đoạn nhạc ngắn giúp khách hàng nhận biết và tạo sức hấp dẫn, sinh động cho thương hiệu. Bao bì: Là công cụ định vị và cạnh tranh rất lợi hại trên thương trường, là một trong những chữ P của hỗn hợp Marketing Thiết kế và kiểu dáng: Kết cấu, bố cục và nét thẩm mỹ bên ngoài của sản phẩm cũng là những yếu tố dùng để nhận dạng và tạo sức hấp dẫn cho sản phẩm trong cạnh tranh. Cùng với những quan điểm trên Trương Đình Chiến (2005), cho rằng các yếu tố tạo nên sự nhận biết thương hiệu đối với một con người hay một tổ chức khi nhận biết về tổ chức khác bao gồm các nhóm chủ yếu như: Nhận biết qua triết lý kinh doanh, nhận biết qua hoạt động thực tế và nhận biết qua truyền thông thị giác. Trong đó, nội dung chính trong các nhóm yếu tố này bao gồm: a.
Hệ thống các yếu tố cơ bản - Tên thương hiệu, biếu trưng (logo) là hai yếu tố hình ảnh dễ nhận biết nhất trong hệ thống tín hiệu về thương hiệu của doanh nghiệp. Cũng như tên thương hiệu, biểu trưng (logo) phải thực sự diễn tả được cái cốt lõi mà doanh nghiệp xác định, đây là yếu tố có chức năng định vị trong hệ thống truyền thông marketing. - Biểu trưng (logo): là tín hiệu nhận biết và tượng trưng cho một thương hiệu, là hạt nhân trong hệ thống truyền thông thị giác. Nó gợi lên những thông tin về ý tưởng thương hiệu, về nội dung và quy mô kinh doanh, về đặc tính của sản phẩm, dịch vụ, đồng thời nói lên đặc thù của thương hiệu, là yếu tố định vị thị trường.
Vì vậy, logo thực sự là tín hiệu có sức thu hút thị giác mạnh. - Biểu tượng (symbol): biểu tượng luôn được nhìn nhận như một khái niệm phản ánh các giá trị về mặt truyền thống, khái niệm mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, hình tượng ẩn dụ mang sức mạnh của tâm thức thường được bảo tồn lâu bền trong tâm trí con người. Nhiều doanh nghiệp trên thế giới thường lấy những vật đã được nhân cách qua thủ pháp ẩn dụ tượng trưng để làm biểu tượng của doanh nghiệp như Tiger biểu tượng cũng là biểu trưng là con hổ, PUMA biểu tượng con báo,. Biểu tượng có thể được thiết kế với nhiều hình dạng và tư thế phong phú.
9 - Kiểu chữ chuẩn mực của thương hiệu: việc lựa chọn một hay hai kiểu chữ nhất quán trong truyền thông của thương hiệu rất quan trọng, bởi vì các kiểu chữ khác nhau mang âm điệu khác nhau, kiểu chữ phản ánh tính cách của thương hiệu. Có thể dùng toàn bộ hoặc chỉ dùng tên tắt của thương hiệu làm chữ chuẩn mực. - Màu chuẩn mực: Màu chuẩn là màu tượng trưng cho doanh nghiệp hoặc cho sản phẩm, có tác dụng quan trọng trong việc tạo ấn tượng doanh nghiệp, làm nổi bật sự khác biệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Thông thường, màu chuẩn được lấy ra từ màu chuẩn của logo, ví dụ như: PEPSI màu xanh, COCACOLA màu đỏ, TRUNG NGHUYÊN màu cà phê.
Màu chuẩn mực nói chung chỉ nên dùng từ một đến ba màu chính, song đôi khi cũng có thể dùng hệ thống nhiều màu.