Phần mở đầu. Tổng quan về độ tin cậy cung cấp điện của hệ thống điện và lưới phân phối. Đánh giá độ tin cậy cho lưới điện phân phối. Áp dụng tính toán nâng cao độ tin cậy cho xuất tuyến lưới điện trung áp 450 E1.8 quận Ba Đình, Hà Nội bằng phương pháp phân đoạn.
So sánh kinh tế và đánh giá hiệu quả của các biện pháp nâng cao độ tin cậy đối với xuất tuyến 450 E1.8 - Nhận xét và kết luận chung. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ ĐỘ TIN CẬY CUNG CẤP ĐIỆN LƢỚI PHÂN PHỐI 1.1 Tổng quan về lƣới điện phân phối 1.Khái niệm lưới phân phối Lưới phân phối là một bộ phận của hệ thống điện làm nhiệm vụ phân phối điện năng từ các trạm trung gian, các trạm khu vực hay thanh cái của nhà máy điện cấp điện cho phụ tải. Nhiệm vụ của lưới phân phối là cấp điện cho các phụ tải đảm bảo chất lượng điện năng và độ tin cậy cung cấp điện trong giới hạn cho phép. Tuy nhiên do điều kiện kinh tế và kỹ thuật, độ tin cậy của lưới phân phối cao hay thấp phụ thuộc vào yêu cầu của phụ tải và chất lượng của lưới điện phân phối.
Lưới phân phối gồm lưới phân phối trung áp và lưới phân phối hạ áp. Cấp điện áp thường dùng trong lưới phân phối trung áp là 6, 10, 22 và 35 kV. Cấp điện áp thường dùng trong lưới phân phối hạ áp là 380/220 V hay 220/110 V 1.Đặc điểm và phân loại lưới phân phối Lưới phân phối có tầm quan trọng cũng như ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của hệ thống điện như: Trực tiếp cấp điện và đảm bảo chất lượng điện năng cho phụ tải (chủ yếu là điện áp) Giữ vai trò rất quan trọng đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện cho phụ tải. Tỷ lệ điện năng bị mất (điện năng mất/ tổng điện năng phân phối) do ngừng điện được thống kê như sau: Do ngừng điện lưới 110 kV trở lên: (0,1-0,3).10-4 Do sự cố lưới điện trung áp: 4.
10-4 Do ngừng điện kế hoạch lưới trung áp: 2. 10-4 Do sự cố lưới điện hạ áp: 2. 10-4 14 Do ngừng điện kế hoạch lưới hạ áp: 2. 10-4 Điện năng bị mất do sự cố và ngừng điện kế hoạch trong lưới phân phối chiếm 98%.
Ngừng điện (do sự cố hay theo kế hoạch) trên lưới phân phối trung áp có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động kinh tế xã hội. Chi phí đầu tư xây dựng lưới phân phối chiếm tỷ lệ lớn khoảng 50% của hệ thống điện (35% cho nguồn điện, 15% cho lưới hệ thống và lưới truyền tải) Tổn thất điện năng trong lưới phân phối lớn gấp 2-3 lần lưới truyền tải và chiếm (65-70) % tổn thất toàn hệ thống. Lưới phân phối gần với người sử dụng điện do đó vấn đề an toàn điện cũng rất quan trọng Người ta thường phân loại lưới phân phối trung áp theo ba dạng: Theo đối tượng và địa bàn phục vụ: Gồm có lưới phân phối thành phố, lưới phân phối nông thôn và lưới phân phối xí nghiệp. Theo thiết bị dẫn điện: Gồm lưới trên không và lưới phân phối cáp ngầm.
Theo cấu trúc hình dáng: Gồm lưới phân phối hở (hình tia) có phân đoạn, không phân đoạn; lưới phân phối kín vận hành hở và hệ thống phân phối điện. Để làm cơ sở xây dựng lưới phân phối về mọi mặt cũng như trong quy hoạch và vận hành, người ta đưa ra các chỉ tiêu đánh giá chất lượng lưới phân phối trên 3 lĩnh vực đó là sự phục vụ đối với khách hàng, ảnh hưởng tới môi trường và hiệu quả kinh tế đối với đơn vị cung cấp điện. Các tiêu chuẩn đánh giá như sau: Chất lượng điện năng. Độ tin cậy liên tục cung cấp điện.
Hiệu quả kinh tế (giá thành tải điện nhỏ nhất). 15 Ảnh hưởng đến môi trường (cảnh quan, dân cư, đường dây thông tin). Trong các tiêu chuẩn đã đề cập trên, tiêu chuẩn thứ nhất và thứ hai liên quan trực tiếp đến điện năng gọi chung là chất lượng phục vụ của lưới điện phân phối. Phần tử của lưới điện phân phối: Các phần tử cấu thành nên lưới phân phối bao gồm: Máy biến áp trung gian và máy biến áp phân phối.
Các thiết bị dẫn điện: đường dây điện trên không, cáp lực và phụ kiện Thiết bị đóng cắt và bảo vệ: máy cắt, dao cách ly, chống sét van, áp tô mát, hệ thống bảo vệ rơ le, giảm dòng ngắn mạch. Thiết bị điều chỉnh điện áp: thiết bị điều áp dưới tải, thiết bị thay đổi đầu phân áp ngoài tải, tụ bù ngang, tụ bù dọc, thiết bị đối xứng hóa, thiết bị lọc sóng hài bậc cao. Thiết bị đo lường: Công tơ đo điện năng tác dụng, điện năng phản kháng, đồng hồ đo điện áp và dòng điện, thiết bị truyền thông tin đo lường… Thiết bị giảm tổn thất điện năng: tụ bù Thiết bị nâng cao độ tin cậy: thiết bị tự động đóng cắt, thiết bị tự đóng nguồn dự trữ, máy cắt hoặc dao cách ly phân đoạn, các khớp nối dễ tháo trên đường dây, kháng điện hạn chế ngắn mạch… Thiết bị điều khiển từ xa hoặc tự động: Máy tính điện tử, thiết bị đo xa, thiết bị truyền, thu và xử lý thông tin, thiết bị điều khiển xa… Mỗi phần tử trên lưới điện đều có các thông số đặc trưng (công suất, điện áp định mức, tiết diện dây dẫn, điện kháng, điện dung, dòng điện cho phép, tần số định mức, khả năng đóng cắt…) được chọn trên cơ sở tính toán kỹ thuật. 16 Những phần tử có dòng công suất đi qua (máy biến áp, dây dẫn, thiết bị đóng cắt, máy biến dòng, tụ bù…) thì thông số của chúng ảnh hưởng trực tiếp đến thông số chế độ (điện áp, dòng điện, công suất) nên được dùng để tính toán chế độ làm việc của lưới điện phân phối.
Đa phần các phần tử chỉ có 2 trạng thái: Làm việc và không làm việc. Một số ít phần tử có nhiều trạng thái như: Hệ thống điều áp, tụ bù có điều khiển, mỗi trạng thái ứng với một khả năng làm việc. Một số phần tử có thể thay đổi trạng thái trong khi mang điện (dưới tải) như: Máy cắt, áp tô mát, các thiết bị điều chỉnh dưới tải. Một số khác có thể thay đổi khi cắt điện như: Dao cách ly, đầu phân áp cố định.
Máy biến áp và đường dây nhờ các máy cắt có thể thay đổi trạng thái dưới tải. Nhờ các thiết bị phân đoạn, đường dây điện được chia thành nhiều phần của hệ thống điện. Không phải lúc nào các phần tử lưới cũng tham gia vận hành, một số phần tử có thể nghỉ vì lý do sự cố hoặc lý do kỹ thuật, kinh tế khác. Ví dụ tụ bù có thể bị cắt lúc phụ tải thấp để giữ điện áp, một số phần tử lưới không làm việc để lưới phân phối vận hành hở theo điều kiện tổn thất công suất nhỏ nhất.Cấu trúc và sơ đồ của lưới điện phân phối Lưới điện phân phối bao gồm các phần tử tạo thành lưới điện phân phối, sơ đồ lưới điện phân phối và hệ thống điều khiển lưới điện phân phối.
Cấu trúc lưới điện phân phối bao gồm: - Cấu trúc tổng thể: gồm tất cả các phần tử và sơ đồ lưới đầy đủ. Muốn lưới điện có độ tin cậy cao thì cấu trúc tổng thể phải là cấu trúc thừa. Thừa về số phần tử, về khả năng tải của các phần tử, thừa về khả năng lập sơ đồ. Ngoài ra trong vận hành còn phải dự trữ các số liệu thay thế và vật liệu để sửa chữa.
17 - Cấu trúc vận hành: Là một phần của cấu trúc tổng thể đủ đáp ứng nhu cầu trong một chế độ vận hành nhất định. Một cấu trúc vận hành gọi là một trạng thái của lưới điện. Có thể có nhiều cấu trúc vận hành thỏa mãn điều kiện kỹ thuật, người ta chọn cấu trúc vận hành tối ưu theo điều kiện kinh tế (tổn hao nhỏ nhất). Khi xảy ra sự cố, một phần tử đang tham gia vận hành bị hỏng thì cấu trúc vận hành bị rối loạn, người ta phải nhanh chóng chuyển qua cấu trúc vận hành sự cố bằng cách thay đổi các trạng thái phần tử cần thiết.
Cấu trúc vận hành sự cố có chất lượng vận hành thấp hơn so với cấu trúc vận hành bình thường. Trong chế độ vận hành sau sự cố có thể xảy ra mất điện phụ tải. Cấu trúc vận hành sau sự cố chọn theo độ an toàn cao và khả năng thao tác thuận lợi - Cấu trúc tĩnh: trong cấu trúc này lưới điện phân phối không thể thay đổi sơ đồ vận hành. Ở cấu trúc này khi bảo dưỡng hay sự cố thì toàn bộ một phần lưới điện phân phối phải ngừng điện.
Đó là lưới phân phối hình tia không phân đoạn và hình tia phân đoạn bằng dao cách ly hoặc máy cắt. - Cấu trúc động không hoàn toàn: đây là lưới điện phân phối có cấu trúc kín vận hành hở. Trong cấu trúc này có thể thay đổi sơ đồ vận hành ngoài tải, tức là cắt điện để thao tác. - Cấu trúc động hoàn toàn: Trong cấu trúc này lưới điện có thể thay đổi sơ đồ vận hành ngay cả khi đang làm việc, đó là hệ thống phân phối điện.
- Cấu trúc động được áp dụng là do nhu cầu ngày càng cao về độ liên tục cung cấp điện. Ngoài ra cấu trúc động cho phép vận hành kinh tế lưới điện phân phối, trong đó cấu trúc động không hoàn toàn và cấu trúc động hoàn toàn mức thấp cho phép vận hành kinh tế lưới điện theo mùa, khi đồ thị phụ tải thay đổi đáng kể. Cấu trúc động ở mức cao cho phép vận hành lưới điện theo thời gian thực, lưới phân phối trong cấu trúc này phải được 18 thiết kế sao cho có thể vận hành kín trong thời gian ngắn trong khi thao tác sơ đồ. Theo quy hoạch cấu trúc lưới điện phân phối có thể chia thành: - Cấu trúc phát triển: đó là lưới phân phối cấp điện cho phụ tải đang còn tăng trưởng theo thời gian và trong không gian.
Khi thiết kế quy hoạch lưới này sơ đồ của nó được chọn theo tình huống cụ thể và tính đến sự phát triển trong tương lai. - Cấu trúc bão hòa: đó là lưới phân phối hoặc bộ phận của nó cấp điện cho phụ tải bão hòa, không tăng thêm theo thời gian và không gian. Đối với lưới phân phối bão hoà thường có sơ đồ thiết kế chuẩn, mẫu mã đã được tính toán tối ưu.