Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỘ TIN CẬY CỦA LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI 1. Tổng quan về LĐPP. Định nghĩa và phân loại. LĐPP điện là một bộ phận của hệ thống điện làm nhiệm vụ phân phối điện năng từ các trạm trung gian, các trạm khu vực hay thanh cái của nhà máy điện cấp điện cho phụ tải.
Nhiệm vụ của LĐPP là cấp điện cho phụ tải đảm bảo chất lượng điện năng và ĐTC cung cấp điện trong giới hạn cho phép. Tuy nhiên do điều kiện kinh tế và kỹ thuật, ĐTC của LĐPP cao hay thấp phụ thuộc vào yêu cầu của phụ tải và chất lượng của LĐPP. LĐPP gồm LĐPP trung áp và LĐPP hạ áp. Cấp điện áp thường dùng trong LĐPP trung áp là 6, 10, 15, 22 và 35kV.
Cấp điện áp thường dùng trong LĐPP hạ áp là 380/220V hay 220/110V. LĐPP có tầm quan trọng cũng như có ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật của hệ thống điện như: Trực tiếp cấp điện và đảm bảo chất lượng điện năng cho phụ tải (chủ yếu là điện áp). Giữ vai trò rất quan trọng trong đảm bảo ĐTC cung cấp điện cho phụ tải. Tỷ lệ điện năng bị mất (điện năng mất/tổng điện năng phân phối) do ngừng điện được thống kê như sau: Do ngừng điện lưới 110kV trở lên : (0,1 - 0,3)x10-4.
Do sự cố lưới điện trung áp : 4,5x10-4. Do ngừng điện kế hoạch lưới trung áp: 2,5x10-4. Do sự cố lưới điện hạ áp : 2,0x10-4. Do ngừng điện kế hoạch lưới hạ áp : 2,0x10-4.
Điện năng bị mất do sự cố và ngừng điện kế hoạch trong LĐPP chiếm 98%. Ngừng điện (sự cố hay kế hoạch) trên lưới phân trung áp có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động kinh tế xã hội. Chi phí đầu tư xây dựng LĐPP chiếm tỷ lệ lớn khoảng 50% của hệ thống điện (35% cho nguồn điện, 15% cho lưới hệ thống và lưới truyền tải). Tổn thất điện năng trong LĐPP lớn gấp 2-3 lần lưới truyền tải và chiếm (65-70)% tổn thất toàn hệ thống.
LĐPP gần với người sử dụng điện do đó vấn đề an toàn điện cũng rất quan trọng. Người ta thường phân loại lưới trung áp theo 3 dạng: Theo đối tượng và địa bàn phục vụ: LĐPP thành phố. LĐPP nông thôn. 4 Theo thiết bị dẫn điện: LĐPP trên không.
Theo cấu trúc hình dáng: LĐPP hở (hình tia) có phân đoạn, không phân đoạn. LĐPP kín vận hành hở. Hệ thống phân phối điện. Tóm lại, do tầm quan trọng nên LĐPP được quan tâm nhiều nhất trong quy hoạch cũng như vận hành.
Các tiến bộ khoa học thường được áp dụng vào việc điều khiển vận hành LĐPP trung áp. Sự quan tâm đến LĐPP trung áp còn được thể hiện trong tỷ lệ rất lớn các công trình nghiên cứu khoa học được công bố trên các tạp chí khoa học. Phần tử của LĐPP. Các phần tử của LĐPP bao gồm: Máy biến áp trung gian và máy biến áp phân phối.
Thiết bị dẫn điện: Đường dây điện (dây dẫn và phụ kiện). Thiết bị đóng cắt và bảo vệ: Máy cắt, DCL, cầu chì, chống sét van, áp tô mát, hệ thống bảo vệ rơ le, giảm dòng ngắn mạch. Thiết bị điều chỉnh điện áp: Thiết bị điều áp dưới tải, thiết bị thay đổi đầu phân áp ngoài tải, tụ bù ngang, tụ bù dọc, thiết bị đối xứng hóa, thiết bị lọc sóng hài bậc cao. Thiết bị đo lường: Công tơ đo điện năng tác dụng, điện năng phản kháng, đồng hồ đo điện áp và dòng điện, thiết bị truyền thông tin đo lường.
Thiết bị giảm tổn thất điện năng: Tụ bù. Thiết bị nâng cao ĐTC: Thiết bị tự động đóng lại, thiết bị tự đóng nguồn dự trữ, máy cắt hoặc DCL phân đoạn, các khớp nối dễ tháo trên đường dây, kháng điện hạn chế ngắn mạch,. Thiết bị điều khiển từ xa hoặc tự động: Máy tính điện tử, thiết bị đo xa, thiết bị truyền, thu và xử lý thông tin, thiết bị điều khiển xa, thiết bị thực hiện,. Mỗi phần tử trên lưới điện đều có các thông số đặc trưng (công suất, điện áp định mức, tiết diện dây dẫn, điện kháng, điện dung, dòng điện cho phép, tần số định mức, khả năng đóng cắt, .) được chọn trên cơ sở tính toán kỹ thuật.
Những phần tử có dòng công suất đi qua (máy biến áp, dây dẫn, thiết bị đóng cắt, máy biến dòng, tụ bù, .) thì thông số của chúng ảnh hưởng trực tiếp đến thông số chế độ (điện áp, dòng điện, công suất) nên được dùng để tính toán chế độ làm việc của LĐPP. Nói chung các phần tử chỉ có 2 trạng thái: Làm việc và không làm việc. Một số ít phần tử có nhiều trạng thái như: Hệ thống điều áp, tụ bù có điều khiển, mỗi trạng thái ứng với một khả năng làm việc. 5 Một số phần tử có thể thay đổi trạng thái trong khi mang điện (dưới tải) như: Máy cắt, áp tô mát, các thiết bị điều chỉnh dưới tải.
Một số khác có thể thay đổi khi cắt điện như: DCL, đầu phân áp cố định. Máy biến áp và đường dây nhờ các máy cắt có thể thay đổi trạng thái dưới tải. Nhờ các thiết bị phân đoạn, đường dây điện được chia thành nhiều phần tử của hệ thống điện. Không phải lúc nào các phần tử của LĐPP cũng tham gia vận hành, một số phần tử có thể nghỉ vì lý do sự cố hoặc lý do kỹ thuật, kinh tế khác.
Ví dụ tụ bù có thể bị cắt lúc phụ tải thấp để giữ điện áp, một số phần tử lưới không làm việc để LĐPP vận hành hở theo điều kiện tổn thất công suất nhỏ nhất. Tổng quan về ĐTC. Các khái niệm về ĐTC. ĐTC là xác suất để đối tượng (hệ thống hay phần tử) hoàn thành nhiệm vụ chức năng cho trước, duy trì được giá trị các thông số làm việc đã được thiết lập trong một giới hạn đã cho, ở một thời điểm nhất định, trong những điều kiện làm việc nhất định.
ĐTC luôn gắn với việc hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định và trong một hoàn cảnh nhất định. Ta thấy xác suất là một đại lượng thống kê nên đối với hệ thống (hay phần tử) không phục hồi, ĐTC là khái niệm có tính thống kê từ kinh nghiệm làm việc trong quá khứ của hệ thống (hay phần tử). Còn đối với hệ thống (hay phần tử) phục hồi như hệ thống điện và các phần tử của nó, khái niệm khoảng thời gian xác định không có ý nghĩa bắt buộc nữa vì hệ thống làm việc liên tục. Do đó ĐTC được đo bởi một đại lượng thích hợp hơn đó là độ sẵn sàng.
Độ sẵn sàng là xác suất để hệ thống hay phần tử hoàn thành hoặc sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ trong thời điểm bất kỳ. Độ sẵn sàng cũng là xác suất để hệ thống ở trạng thái tốt trong thời điểm bất kỳ và được tính bằng tỷ số giữa thời gian hệ thống ở trạng thái tốt và tổng thời gian hoạt động. Ngược lại với độ sẵn sàng là độ không sẵn sàng, nó là xác suất để hệ thống hoặc phần tử ở trạng thái hỏng. Vậy Đối với phần tử không phục hồi ta chỉ xét đến sự kiện sự cố xảy ra lần đầu tiên.
Ở phần tử có phục hồi phải xét quá trình xảy ra và sửa chữa sự cố. Sau khi sửa chữa giả thiết trạng thái thiết bị như mới. Trong quá trình vận hành mỗi phần tử ở một trong hai trạng thái: làm việc hoặc sự cố (ở tình trạng sửa chữa). ĐTC của phần tử ĐTC của phần tử có ý nghĩa quyết định ĐTC của hệ thống.
Các khái niệm cơ bản về ĐTC của phần tử cũng đúng cho hệ thống. Do đó nghiên cứu kỹ những 6 khái niệm cơ bản về ĐTC của phần tử là điều rất cần thiết. Ở đây sẽ xét cụ thể ĐTC của phần tử phục hồi và phần tử không phục hồi. Phần tử không phục hồi Phần tử không phục hồi chỉ làm việc cho đến lần hỏng đầu tiên.
Thời gian làm việc của phần tử từ lúc bắt đầu hoạt động cho đến khi hỏng hay còn gọi là thời gian phục vụ (là đại lượng ngẫu nhiên), vì thời điểm hỏng của phần tử là ngẫu nhiên không biết trước. Thời gian vận hành an toàn. Giả sử ở thời điểm t = 0 phần tử bắt đầu làm việc và đến thời điểm t = phần tử bị sự cố, khoảng thời gian t = được gọi là thời gian làm việc an toàn của phần tử. là một đại lượng ngẫu nhiên có thể nhận mọi giá trị trong khoảng 0.
Giả thiết trong khoảng thời gian khảo sát t, phần tử xảy ra sự cố với xác suất Q(t). Khi đó ta có hàm phân bố: Q(t) = P { < t} (1.1) Nghĩa là phần tử bị sự cố trong khoảng thời gian t vì P{ < t} là xác suất phần tử làm việc an toàn trong khoảng thời gian nhỏ hơn khoảng thời gian khảo sát t.3) Δt Δt 0 Từ đó ta có: t Q(t) q(t) dt (1. ĐTC của phần tử Bên cạnh hàm phân phối Q(t) mô tả xác xuất sự cố của phần tử, thường sử dụng hàm P(t) để mô tả ĐTC của phần tử theo định nghĩa: P(t) = 1-Q(t) = P( > t) (1.5) Như vậy P(t) là xác suất để phần tử vận hành an toàn trong khoảng thời gian t, vì thời gian làm việc an toàn của phần tử > t Từ (1. Đồ thị xác suất P(t) và Q(t) được vẽ trên hình (1.
Cường độ sự cố (t) (t) là một trong những khái niệm cơ bản quan trọng khi nghiên cứu ĐTC. Với t đủ nhỏ thì (t). (t) chính là xác suất để phần tử đã phục vụ đến thời điểm t sẽ bị sự cố trong khoảng thời gian t tiếp theo. Hay nói cách khác đó là số lần sự cố trong một đơn vị thời gian trong khoảng thời gian t.7) Δt 0 P(t < t+ t / > t ): Là xác suất để phần tử bị sự cố trong khoảng thời gian từ t đến (t+ t) với điều kiện phần tử đó đã làm việc tốt đến thời điểm t.
Gọi A là sự kiện phần tử bị sự cố trong khoảng thời gian từ t đến t. B là sự kiện phần tử đã làm việc tốt đến thời điểm t. Theo lý thuyết xác suất, xác suất giao giữa 2 sự kiện A và B là: P(A B) = P(A).9) cho ta quan hệ giữa 4 đại lượng: Cường độ sự cố (t), hàm mật độ q(t), hàm phân bố Q(t), và ĐTC P(t).