phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về chất lƣợng tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong - Chi nhánh Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Tiên Phong - Chi nhánh Hà Nội 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng trung dài hạn Tín dụng trung dài hạn ―là hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng vay vốn trung dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống‖ (Tín dụng ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê, TP. Hồ Chí Minh).
Hiện nay thời hạn của tín dụng trung dài hạn đƣợc xác định nhƣ sau: Thời hạn tín dụng trung hạn từ 12 tháng đến 5 năm. Thời hạn tín dụng dài hạn từ 5 năm trở lên nhƣng không quá thời hạn khấu hao tài sản cố định, hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với các dự án phục vụ đời sống. Nhƣ vậy nhìn chung các khoản tín dụng trung dài hạn có các đặc trƣng cơ bản sau: Chúng có thời hạn từ một năm trở lên Chúng đƣợc trả bằng những khoản trả vay theo thời gian (có thể theo tháng, quý, năm hoặc nửa năm) trong kỳ hạn của khoản vay. Chúng thƣờng đƣợc đảm bảo bằng những tài sản lƣu động đem ra thế chấp hoặc cầm cố tài sản cố định.
Mục đích của hoạt động cấp tín dụng trung dài hạn là để đầu tƣ dự án, xây dựng mới, mua sắm tài sảm cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới cải tiến thiết bị công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm mục tiêu lợi nhuận phù hợp với chính sách phát triển kinh tế xã hội theo 8 định hƣớng của Chính Phủ và tuân theo quy định của pháp luật. Từ những khái niệm và đặc trƣng nêu trên chúng ta có thể đƣa ra một quan niệm chung về tín dụng trung dài hạn nhƣ sau: Tín dụng trung dài hạn là một bộ phận của tín dụng ngân hàng và là một quan hệ kinh tế giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó ngân hàng chuyển giao tiền hay tài sản cho khách hàng trong một thời gian nhất định với những thỏa thuận hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định giữa khách hàng và ngân hàng. Đặc điểm tín dụng trung dài hạn - Một là: Vốn đầu tƣ lớn, thời gian dài, thu hồi vốn chậm Nếu nhƣ tín dụng ngắn hạn tài trợ chủ yếu cho các tài sản lƣu động của khách hàng và đƣợc hoàn trả trong thời gian ngắn dƣới 1 năm thì tín dụng trung dài hạn phần lớn tài trợ cho bất động sản, công cụ lao động, hay đổi mới công nghệ của khách hàng. Do đó việc tài trợ này còn đòi hỏi một khối lƣợng vốn lớn, thời gian đầu tƣ dài.
Những khoản tín dụng trung dài hạn này thì nguồn trả nợ gốc và lãi chủ yếu dựa vào khấu hao và lợi nhuận của dự án đầu tƣ. Trong khi đó ngân hàng phải bỏ vốn trong suốt thời gian xây dựng dự án và chỉ tiến hành thu hồi vốn đầu tƣ khi dự án đi vào hoạt động và đạt kết quả, dẫn đến thời hạn thu hồi vốn chậm. - Hai là: Độ rủi ro cao Do khối lƣợng vốn đầu tƣ lớn, thời gian đầu tƣ dài, thu hồi vốn chậm nên độ rủi ro của một khoản tín dụng trung dài hạn là cao. Kết quả của một dự án đầu tƣ chịu ảnh hƣởng của nhiều yếu tố.
Sự phân tích và xác định của ngân hàng về các rủi ro này là có hạn. Các ngân hàng cũng không thể khắc phục hết đƣợc các rủi ro này. Khi khoản cho vay dài hạn, thời gian đầu tƣ dài, có nhiều sự thay đổi trong môi trƣờng kinh tế: nhƣ những thay đổi về chính sách, thị trƣờng, lạm phát… sẽ khiến cho dự án 9 bị thua lỗ hoặc không có khả năng thu hồi vốn. - Ba là: Lợi nhuận từ các khoản cho vay trung dài hạn là lớn Khi độ rủi ro của các dự án càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng mà nhà đầu tƣ mong đợi càng nhiều, cũng nhƣ vậy các khoản tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thƣờng mang lại cho ngân hàng các khoản thu nhập lớn.
Biểu hiện cụ thể đó là lãi suất của các khoản vay tín dụng trung dài hạn thƣờng cao hơn. Có đặc điểm này là do để bù đắp cho những chi phí trong việc huy động những nguồn vốn phục vụ cho hoạt động cho vay trung dài hạn, chi phí bù đắp rủi ro. Các hình thức tín dụng trung dài hạn a. Căn cứ vào nghiệp vụ tín dụng bao gồm: Tín dụng theo dự án đầu tƣ là hình thức cấp tín dụng mà ngân hàng thực hiện cấp tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tƣ phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tƣ phục vụ đời sống, tín dụng theo dự án đầu tƣ bao gồm: - Cho vay đồng tài trợ: Là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tín dụng (từ 2 tổ chức tín dụng trở lên) cho một dự án, do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp với các bên đồng tài trợ để thực hiện, nhằm phân tán rủi ro của các tổ chức tín dụng.
Hình thức này đƣợc đƣợc áp dụng trong các trƣờng hợp: Các dự án đầu tƣ đòi hỏi một khoản vốn lớn mà các ngân hàng riêng lẻ thì không đáp ứng hết đƣợc, ngân hàng thƣờng chỉ đƣợc phép đầu tƣ vốn tới một mức độ nhất định so với tổng nguồn vốn của mình và không đƣợc đầu tƣ quá nhiều vốn vào một khách hàng để đảm bảo an toàn vốn. Thậm chí đối với một vài dự án ngân hàng có thể đáp ứng toàn bộ nhƣng rủi ro quá lớn ngân hàng không muốn đảm nhận hết. Do vậy, cho vay đồng tài trợ là một họat động tín dụng giúp ngân hàng phân tán rủi ro và có thể sử dụng tối 10 đa nguồn vốn của họ cho đầu tƣ vào các dự án dài hạn. - Cho vay trực tiếp theo dự án: là hình thức tín dụng trung – dài hạn phổ biến trong nền kinh tế thị trƣờng.
Ngân hàng thƣơng mại tiến hành mọi hoạt động và tự chịu trách nhiệm với từng dự án đầu tƣ của khách hàng mà họ đã lựa chọn để tài trợ. Công việc của ngân hàng trong hình thức cấp tín dụng này không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn phải quán xuyến hàng loạt các công việc khác có liên quan đến tính khả thi có hiệu quả của dự án nhƣ: quy hoạch sản xuất, thiết kế, quy trình công nghệ, tiêu chuẩn thiết bị máy móc, giá cả thị trƣờng, hiệu quả đầu tƣ. Bởi vì việc quy định cấp một khoản tín dụng sẽ ràng buộc ngân hàng với ngƣời vay trong một số thời gian dài cho nên ngân hàng cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc và xem xét kỹ lƣỡng các rủi ro có thể xảy ra. Cho thuê tài chính là một trong các hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phƣơng tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa Bên cho thuê và Bên thuê.
Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị, phƣơng tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của Bên thuê và nắm quyền sở hữu đối với các tài sản thuê trong suốt quá trình thuê. Bên thuê đƣợc sử dụng tài sản thuê, thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã đƣợc hai bên thoả thuận và không đƣợc hủy bỏ hợp đồng thuê trƣớc thời hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, Bên thuê đƣợc chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản đó theo các điều kiện đã đƣợc hai bên thoả thuận. Tài sản thuê bao gồm cả động sản và bất động sản: Động sản chủ yếu gồm máy móc thiết bị, ô tô dây chuyền công nghệ… hoặc bất động sản chủ yếu là cửa hàng, văn phòng làm việc, cơ sở sản xuất… Về mặt pháp lý, tài sản thuê thuộc quyền sở hữu của ngƣời cho 11 thuê, còn đi thuê chỉ đƣợc quyền sử dụng.
Vì vậy, ngƣời đi thuê không đựơc bán chuyển nhƣợng cho ngƣời khác. Song họ đƣợc hƣởng những lợi ích do việc sử dụng tài sản đó đem lại, đồng thời chịu phần vốn rủi ro có liên quan đến tài sản. Tín dụng thuê mua có một số hình thức nhƣ: thuê mua có tham gia của ba bên, thuê mua có sự tham gia của hai bên, tái thuê mua, thuê mua hợp tác, thuê mua giáp lƣng…. Căn cứ vào thời hạn tín dụng bao gồm: Tín dụng trung hạn là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
Loại tín dụng này phục vụ cho nhu cầu mua sắm tài sản cố định, đầu tƣ mở rộng sản xuất với quy mô nhỏ, thu hồi vốn nhanh. Tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời hạn cho vay từ 5 năm trở lên. Loại tín dụng này đƣợc dùng để đầu tƣ phát triển hạ tầng cơ sở của nền kinh tế quốc dân, đầu tƣ chiều sâu để nâng cao năng suất lao động và tạo vị thế cho các ngành công nghiệp then chốt và khả năng hợp tác chuyên ngành và đa ngành, đồng thời góp phần đổi mới cơ cấu của nền kinh tế quốc dân. Căn cứ vào sự đảm bảo hoàn trả nợ bao gồm: Tín dụng tín chấp là hình thức tín dụng mà việc cho vay vốn dựa trên uy tín của ngƣời vay để đảm bảo việc hoàn trả nợ.
Loại tín dụng này áp dụng trong trƣờng hợp nếu giữa bên cho vay và bên đi vay có quan hệ thân tín hoặc bên đi vay là bên có uy tín rất lớn đối với bên cho vay. Tín dụng thế chấp là hình thức tín dụng mà việc hoàn trả nợ đƣợc đảm bảo không chỉ bởi uy tín của bên vay mà còn đƣợc đảm bảo bằng các tài sản của bên vay hoặc bên bảo lãnh cho bên đi vay. Vai trò tín dụng trung dài hạn a.