phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về chất lƣợng tín dụng Ngân hàng Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng TMCP Quân Độichi nhánh Thăng Long Chƣơng 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Thăng Long 4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng trung dài hạn Tín dụng trung dài hạn: ―là hoạt động tài chính tín dụng cho khách hàng vay vốn trung dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống‖. Tuỳ theo từng quốc gia, từng thời kỳ mà có những quy định cụ thể của hoạt động tín dụng trung dài hạn.
Ở Việt Nam, về thời hạn cho vay đƣợc xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tƣ, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng. Hiện nay thời hạn của tín dụng trung dài hạn đƣợc xác định nhƣ sau: Thời hạn cho vay trung hạn từ 12 tháng đến 5 năm. Thời hạn cho vay dài hạn từ 5 năm trở lên nhƣng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với các dự án phục vụ đời sống. Nhƣ vậy nhìn chung các khoản tín dụng trung dài hạn có các đặc trƣng cơ bản sau: Chúng có thời hạn trên một năm.
Chúng đƣợc trả bằng những khoản trả vay theo thời gian (có thể theo quý, tháng, năm hoặc nửa năm) trong kỳ hạn của khoản vay. Chúng thƣờng đƣợc đảm bảo bằng những tài sản lƣu động đem ra thế chấp hoặc văn tự cầm cố tài sản cố định. Mục đích của hoạt động tín dụng trung dài hạn là để đầu tƣ dự án, xây dựng mới, mua sắm tài sảm cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới 5 cải tiến thiết bị công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm mục tiêu lợi nhuận phù hợp với chính sách phát triển kinh tế xã hội và pháp luật quy định. Vai trò tín dụng trung dài hạn a.
Đối với ngân hàng Ngân hàng là tổ chức chuyên doanh trên lĩnh vực tiền tệ, nhận gửi và huy động các nguồn tài chính nhằm mục tiêu lợi nhuận. An toàn trong lợi nhuận là mục của ngân hàng, nói cách khác ngân hàng là một kinh doanh gặp nhiều rủi ro do phần lớn tài sản có của nó là bộ phận tài sản sinh lợi lại không do ngân hàng trực tiếp sử dụng do vậy mà trong quá trình hoạt động, ngân hàng đạt đƣợc mục tiêu lợi nhuận nhƣng vẫn phải đảm bảo an toàn. Vì vậy ngân hàng luôn quan tâm đến những dự án mang hiệu quả cao. Hơn thế nữa, ngày nay sản phẩm ngân hàng cung ứng ngày càng đa dạng không chỉ giới hạn trong những nghiệp vụ truyền thống nhƣ nhận gửi, cho vay hay trung gian thanh toán mà còn rất nhiều các nghiệp vụ đa dạng khác.
Lợi nhuận do các nghiệp vụ này ngày một chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng. Một trong những khách hàng quan trọng nhất của những nghiệp vụ này không ai khác chính là các doanh nghiệp. Do vậy để tạo đƣợc mối quan hệ lâu dài trong tƣơng lai, cũng là thị trƣờng sinh lợi chính của mình, ngân hàng sử dụng tín dụng trung dài hạn nhƣ là một công cụ cuốn hút các khách hàng, củng cố lòng trung thành của các khách hàng truyền thống, đồng thời tạo ra các mối quan hệ mới với các khách hàng mới. Ngân hàng thông qua nguồn vốn tín dụng ƣu đãi cung cấp tín dụng trung dài hạn cho các khách hàng, không những thu đƣợc lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đem lại mà còn thu thêm đƣợc lợi nhuận từ những dịch vụ khác cung cấp cho khách hàng.
Hơn nữa năng lực cung cấp tín dụng trung dài hạn cũng chứng tỏ ngân hàng có đƣợc niềm tin lớn từ khách hàng cũng nhƣ công chúng, trong giai đoạn hiện nay nó cũng chứng tỏ khả năng cạnh tranh của ngâng hàng. Đối với doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trƣờng ngày càng phát triển nhƣ hiện nay, các doanh nghiệp đang phải tham gia vào cuộc cạnh tranh gay gắt, đây là một thực tế tất yếu xảy ra ở bất kỳ nền kinh tế nào. Do sức ép của cạnh tranh mà các doanh nghiệp luôn có những nhu cầu đầu tƣ để tái sản xuất mở rộng, tăng khả năng sản xuất, phát triển thị trƣờng, nâng cao chất lƣợng sản phẩm, có nhƣ vậy doanh nghiệp mới đảm bảo tồn tại và phát triển. Nhƣng muốn thực hiện các kế hoạch nhƣ vậy doanh nghiệp cần có một lƣợng vốn nhất định.
Ở Việt Nam hiện nay khi mà thị trƣờng tài chính chƣa hoàn thiện thì tín dụng ngân hàng là một giải pháp tối ƣu nhất cho các doanh nghiệp. Đối với tất cả các dự án trên doanh nghiệp cần phải đƣợc tài trợ bằng một nguồn vốn trung dài hạn, tín dụng trung dài hạn của ngân hàng sẽ đáp ứng nhu cầu này của doanh nghiệp. Nó giúp cho doanh nghiệp có những công nghệ mới để nâng cao chất lƣợng sản phẩm, củng cố vị thế của doanh nghiệp trên thị trƣờng, giúp cho doanh nghiệp có thể chịu đƣợc những sức ép ban đầu của cạnh tranh và của môi trƣờng kinh doanh mới, giúp cho doanh nghiệp yên tâm hơn trong đầu tƣ và rảnh tay tính toán với những dự án lớn, hiệu quả cao. An toàn về tài chính và khả năng thanh toán là mối quan tâm của nhiều phía đặc biệt là các doanh nghiệp.
Vì vậy tín dụng trung dài hạn của ngân hàng vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Đối với nền kinh tế Đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều sâu: Nhu cầu về tín dụng đặc biệt là tín dụng trung dài hạn tồn tại trong tất cả các nền kinh tế, không phụ thuộc vào trình độ phát triển cũng nhƣ chế độ chính trị xã hội bởi vì tất cả các quốc gia đều có chung một nhu cầu đó là nhu cầu đầu tƣ để phát triển. Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển mạnh và bền vững nếu trong nền kinh tế đó các hoạt động đầu tƣ đƣợc đẩy mạnh. Khác với các loại hình đầu tƣ khác, hoạt 7 động tín dụng trung dài hạn cho phép các tổ chức có đƣợc nguồn vốn với thời hạn hoàn vốn lâu dài đủ để đầu tƣ vào các dự án mang ý nghĩa chiến lƣợc, phát huy đƣợc hiệu quả trong trung dài hạn.
Đối với các Chính phủ, đầu tƣ vào các công trình cơ sở hạ tầng nhƣ: đƣờng xá, cầu cảng, sân bay, nâng cấp, xây mới các đô thị. không thể đem lại hiệu quả trong chốc lát nhƣng nó sẽ mang lại ích lợi to lớn sau này. Việc sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính trung dài hạn, đối với các chính phủ sẽ giúp họ theo đuổi đƣợc các chính sách kinh tế vĩ mô từ đó có thể hƣớng đƣợc đầu tƣ tƣ nhân vào các ngành mà họ đang khuyến khích phát triển, đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững trong dài hạn. Với những công trình lớn do Chính phủ thực hiện, sẽ tạo ra nhiều việc làm mới, hình thành nhiều công ty đứng ra phục vụ các nhu cầu còn bỏ ngỏ.
Những công trình phúc lợi đƣợc tài trợ bằng nguồn vốn trung dài hạn không đem lại lợi ích cho cá nhân thực hiện nhƣng lợi ích mà nó tạo ra cho toàn bộ nền kinh tế là vô cùng to lớn. Nhƣ vậy có thể nói tín dụng trung dài hạn đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện các chƣơng trinh kinh tế xã hội của một quốc gia, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển vững chắc, theo chiều sâu. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với mục tiêu của Chính phủ: Hiện nay ở nƣớc ta đang tiến hành CNH - HĐH. Công nghiệp hoá không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng sản xuất công nghiệp mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới về công nghệ tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững, hiệu quả cao cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Trong điều kiện hiện nay khi thị trƣờng vốn của nƣớc ta chƣa phát triển thì hiện tại và trong thời gian tới tín dụng trung dài hạn vẫn đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện quá trình CNH - HĐH. Thông qua hoạt động tín dụng trung dài hạn, ngân hàng có thể cho vay đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành kinh tế này cũng nhƣ hạn chế đối với ngành kinh tế khác. Nhƣ vậy qua 8 chính sách tín dụng trong từng thời kỳ mà các NHTM có thể tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tạo thị trƣờng sử dụng vốn ngắn hạn: tín dụng trung dài hạn đầu tƣ cho một dự án mới để đầu tƣ vào các máy móc thiết bị và xây dựng cơ bản của doanh nghiệp sẽ kích thích sản xuất phát triển.
Khi đó nhu cầu vôn lƣu động sẽ tăng lên để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Tốc độ phát triển sản xuất càng lớn thì nhu cầu vốn ngắn hạn càng lớn. Thúc đẩy mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu: Nhờ có tín dụng trung dài hạn của ngân hàng mà các doanh nghiệp có thể nhập khẩu công nghệ mới từ đó nâng cao đƣợc năng lực sản xuất và chất lƣợng sản phẩm, đƣợc thị trƣờng quốc tế chấp nhận. Thị trƣờng của doanh nghiệp đƣợc mở rộng ra thị trƣờng quốc tế góp phần tăng kim ngạch xuất nhập khẩu.
Đảm bảo nguồn thu vững chắc cho Ngân sách nhà nƣớc: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nƣớc. Khối lƣợng sản phẩm lớn đƣợc sản xuất và tiêu thụ sẽ tạo ra một nguồn thu lớn cho ngân sách từ các loại thuế nhƣ VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế XNK.Trong trƣờng hợp hàng hoá đƣợc xuất khẩu thì chúng ta sẽ thu đƣợc một nguồn ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập khẩu. Ngoài ra, tín dụng trung dài hạn còn mang ý nghĩa to lớn đối với các cá nhân trong xã hội và trong toàn bộ nền kinh tế.