phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh tỉnh Phú Thọ. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - chi nhánh tỉnh Phú Thọ. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG 1.
Khái niệm tín dụng Trong đời sống luôn luôn có những nhƣ chủ thể có một lƣợng vốn tạm thời nhàn rỗi chƣa phải sử dụng đồng thời một số chủ thể khác lại thiếu vốn một cách tạm thời do nhu cầu chi trả. Từ thừa và thiếu vốn một cách tạm thời của các chủ thể này đã làm nảy sinh nhu cầu vay mƣợn, đầu tƣ và nhận đầu tƣ, đó xuất hiện quan hệ vay mƣợn qua lại lẫn nhau giữa hai đối tƣợng trên đó chính là tín dụng. Vậy, tín dụng là quan hệ vay mƣợn lẫn nhau của các chủ thể trong nền kinh tế dựa trên những nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Nhƣ vậy, bản chất của tín dụng là: - Có sự dịch chuyển vốn giữa các chủ thể từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn một cách tạm thời, ngƣời vay vốn phải trả gốc và lãi cho ngƣời vay sau một thời gian thoả thuận.
- Có hai chủ thể: Ngƣời thiếu vốn đi vay gọi là ngƣời vay vốn và ngƣời thừa vốn cho vay gọi là ngƣời cho vay. Ngƣời vay vốn phải trả gốc và lãi cho ngƣời vay sau một thời gian thoả thuận. Từ việc phân tích nêu trên, chúng ta đƣa ra khái niệm tín dụng ngân hàng nhƣ sau: Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Theo Điều 98 Luật số 47/2010/QH12 Luật Các tổ chức tín dụng thông qua ngày 16 tháng 06 năm 2010 do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng ký thì “cấp tín dụng là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Các nguyên tắc tín dụng Các nguyên tắc này đƣợc cụ thể hóa trong các quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc và các Ngân hàng Thƣơng mại, với một số nội dung chính sau: - Tiền cho vay phải đƣợc hoàn trả sau một thời gian nhất định cả vốn lẫn lãi: Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu vì đại bộ phận vốn kinh doanh của Ngân hàng là nguồn vốn huy động từ nền kinh tế. Nguyên tắc hoàn trả phản ánh đúng bản chất quan hệ tín dụng, tính chất của tín dụng sẽ bị phá vỡ nếu nguyên tắc này không đƣợc thực hiện đầy đủ. Nếu trong quá trình hoạt động kinh doanh, các khoản tín dụng mà ngân hàng đã cung cấp không đƣợc hoàn trả đúng hạn nhất định sẽ ảnh hƣởng tới khả năng thanh toán và thu nhập của ngân hàng. Do đó, khách hàng khi vay vốn phải cam kết trả cả gốc và lãi trong một thời hạn nhất định, cam kết này đƣợc ghi trong hợp đồng vay nợ.
- Vốn vay phải có giá trị tƣơng đƣơng làm đảm bảo: Trong nền kinh tế thị trƣờng, các hoạt động kinh tế diễn ra hết sức đa dạng và phức tạp, vì thế mọi dự báo về rủi ro của ngân hàng chỉ mang tính chất tƣơng đối. Trong môi trƣờng kinh doanh nhƣ vậy, bảo đảm tín dụng đƣợc coi là một tiêu chuẩn xét duyệt cho vay nhằm bổ sung những mặt hạn chế của nhà quản trị tín dụng cũng nhƣ phòng ngừa những diễn biến không thuận lợi của môi trƣờng kinh doanh. Các giá trị tƣơng đƣơng làm bảo đảm có thể là: vật tƣ hàng hoá trong kho, tài sản cố định của doanh nghiệp, số dƣ trên tài khoản tiền gửi, hoá đơn chuẩn bị nhận hàng hoặc có thể là cam kết bảo lãnh của một cơ quan khác thậm chí có thể là chính uy tín của doanh nghiệp trên thị trƣờng và trong mối quan hệ quá khứ với ngân hàng. Giá trị đảm bảo là cơ sở cho khả năng trả nợ của khách hàng, cơ sở để hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng và là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất trong các điều kiện khác nhau.
- Cho vay theo kế hoạch thoả thuận trƣớc (vốn vay phải đƣợc sử dụng đúng mục đích) Tín dụng đúng mục đích không những là nguyên tắc mà còn là phƣơng châm hoạt động của tín dụng. Quan hệ tín dụng phản ánh nhu cầu về vốn và lợi nhuận của 8 doanh nghiệp. Việc thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng là cơ sở để doanh nghiệp tính toán các yếu tố hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời nó cũng là một trong những yếu tố đảm bảo khả năng thu nợ của ngân hàng. Để thực hiện nguyên tắc này, ngân hàng yêu cầu khách hàng vay vốn phải sử dụng tiền vay đúng mục đích nhƣ đã cam kết trong hợp đồng, bởi vì mục đích đó đã đƣợc ngân hàng thẩm định.
Nếu phát hiện khách hàng vi phạm ngân hàng đƣợc quyền thu hồi nợ trƣớc hạn, trƣờng hợp khách hàng không có khả năng trả nợ thì chuyển nợ quá hạn. Vai trò của tín dụng Trên cơ sở phát huy đƣợc các chức năng vốn có của Ngân hàng, tín dụng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội của không chỉ quốc gia đó mà còn ngay cả đối với các nƣớc mà nó có quan hệ giao dịch hay đặt chi nhánh. + Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển: Tín dụng cho đến thời điểm hiện nay vẫn giữ chức năng kinh tế hàng đầu của các Ngân hàng Thƣơng mại. Bất kỳ một tổ chức cá nhân nào muốn hoạt động sản xuất kinh doanh đƣợc diễn ra liên tục, đòi hỏi đều phải có vốn kinh doanh (Vốn cố định và vốn lƣu động) và các nguồn vốn này đồng thời phải tồn tại dƣới ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất và lƣu thông.
Trong thực tế, sản xuất kinh doanh không phải lúc nào doanh nghiệp cũng cần một lƣợng vốn bình quân nhƣ nhau, nên hiện tƣợng thừa thiếu vốn tạm thời là tình trạng thƣờng xuyên xảy ra. Từ đó tín dụng đã góp phần điều tiết nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn. Thứ nhất, tín dụng đóng góp vai trò quan trọng trong việc giải quyết vốn tín dụng ứ đọng ở nơi này bù đắp sự thiếu hụt tạm thời ở nơi khác. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp có kế hoạch mở rộng sản xuất thì yêu cầu về vốn là rất lớn và là mối quan tâm hàng đầu đƣợc đặt ra đối với các nhà quản lý của các doanh nghiệp.
Bởi lẽ để đẩy mạnh tiến độ phát triển sản xuất không thể chỉ trông chờ vào vốn tự có mà các doanh nghiệp phải biết tận dụng những dòng chảy khác của vốn trong xã hội. Tín dụng Ngân hàng lúc này sẽ đóng vai trò là trung tâm đáp ứng những nhu cầu vốn bổ sung cho đầu tƣ và phát triển. Nhƣ vậy, tín dụng vừa góp phần đẩy mạnh tốc độ tập trung và tích lũy vốn cho nền kinh tế, vừa giúp cho doanh nghiệp rút ngắn 9 đƣợc thời gian huy động vốn cho đầu tƣ mở rộng sản xuất. Trong phạm vi đó, tín dụng giữ vai trò điều hòa vốn mà không làm tăng thêm hoặc giảm đi tổng nhu cầu trong nền kinh tế.
Thứ hai, tín dụng góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Trong nền kinh tế thị trƣờng, các doanh nghiệp đƣợc giao quyền tự chủ trong xác định ba vấn đề kinh tế cơ bản là: sản xuất cái gì?, sản xuất nhƣ thế nào? và sản xuất phục vụ cho đối tƣợng khách hàng nào? Nghĩa là doanh nghiệp đƣợc chủ động lựa chọn lĩnh vực đầu tƣ, quy mô đầu tƣ theo quy định của pháp luật và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho doanh nghiệp. Nhƣng trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, thì một vấn đề nữa cần phải đƣợc đặt ra đó là: cần phải tạo ra sự cân đối trong cơ cấu kinh tế giữa các vùng, lãnh thổ, giữa các ngành và trong nội bộ từng ngành, nhất là ở các ngành mũi nhọn và ngành kém phát triển nhƣng cần thiết cho nền kinh tế. Thông qua chính sách tín dụng, lãi suất sẽ đƣợc sử dụng nhƣ là một công cụ để điều tiết nhu cầu đầu tƣ cho phát triển, từ đó góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế chung.
Thứ ba, tín dụng tác động đến chế độ hoạch toán kinh tế, là công cụ để bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có sử dụng vốn tín dụng phải chịu chi phí trả lãi nên phải tính toán hiệu quả chi phí sản xuất: đúng, đủ, kịp thời và chính xác nhằm giảm giá thành sản phẩm, tăng vòng quay vốn để tạo ƣu thế cho bản thân doanh nghiệp mình trong cạnh tranh, sử dụng tối ƣu các nguồn lực của doanh nghiệp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động chung của cả nền kinh tế. Cũng vì thế mà các ngành nghề có tỷ suất lợi nhuận trên đồng vốn bỏ ra cao thì sẽ thu hút đƣợc nhiều nguồn lực đầu tƣ vào do đó cơ cấu kinh tế sẽ bị dịch chuyển. Thêm vào đó, trong điều kiện hiện nay cùng với sự phân công hợp tác quốc tế ngày một sâu rộng thì quá trình điều tiết vốn không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà hình thành nên các quan hệ tín dụng quốc tế.
+ Tín dụng góp phần thúc đẩy các hoạt động thƣơng mại quốc tế. Trong quan hệ kinh tế quốc tế giữa các doanh nghiệp, tổ chức trong nƣớc và các doanh nghiệp tổ chức nƣớc ngoài thì yếu tố không thể thiếu là hoạt động của Ngân hàng. Thông qua các nghiệp vụ nhƣ: nghiệp vụ bảo lãnh, nghiệp vụ L/C… ngân hàng sẽ đóng vai trò là 10 ngƣời trợ thủ đắc lực cho các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập và phát triển. + Tín dụng tác động tích cực đến quá trình cải thiện và nâng cao đời sống của dân cƣ; đặc biệt là dân cƣ nông thôn.