CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại. Những thắng lợi của toàn Đảng, toàn dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và đặc biệt là những kết quả đạt được trong công cuộc đổi mới toàn diện vừa qua của đất nước đã khẳng định được vai trò không thể thiếu của một ngành, một lĩnh vực hoạt động rất đặc biệt, là lĩnh vực mà đối tượng kinh doanh là tiền tệ, là một loại hàng hoá đặc biệt. Vai trò của Ngân hàng đối với toàn bộ nền kinh tế của đất nước lớn như vậy nhưng khái niệm thực sự về Ngân hàng như thế nào thì không phải ai cũng hiểu rõ? Vậy Ngân hàng là gì? Chức năng của nó là gì? Xung quanh những vấn đề này hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau.
Có quan điểm cho rằng Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ với các hoạt động chủ yếu là huy động, cho vay, thanh toán. Quan điểm khác lại cho rằng Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với chức năng chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư. Và quan điểm được hầu hết các nhà quản lý Ngân hàng và các nhà khoa học nghiên cứu về Ngân hàng, đồng tình đó là: “Ngân hàng là loại hình tài chính cung cấp một dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất cứ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Quá trình hình thành và phát triển của các Ngân hàng Thương Mại.
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế. Ngân hàng là người cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu dùng (cá nhân, hộ gia đình), với hầu hết các doanh nghiệp lớn, nhỏ. Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng cần phải thanh toán cho các khoản hàng hoá, dịch vụ hay cần lập kế hoạch tài chính, họ thường sử dụng các phương tiện thanh toán, hay thường sử dụng các lời tư vấn của Ngân hàng. Học viên: Nguyễn Đức Tín -8- Khoá 2009-2011 Luận văn cao học Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Ngân hàng được hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hoá.
Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát triển Ngân hàng, đến lượt mình sự phát triển của hệ thống Ngân hàng trở thành động lực thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế phát triển thông qua các nghiệp vụ mà nó thực hiện. Nghề Ngân hàng sơ khai bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng – Mô hình Ngân hàng của những người thợ vàng, hoặc Ngân hàng của những kẻ cho vay nặng lãi, đầu tiên đã dùng vốn tự có để tài trợ cho hoạt động của họ và khách hàng của họ chủ yếu là những cá nhân giàu có như quan lại, địa chủ,… nhằm mục đích phục vụ tiêu dùng. Sau đó mở rộng ra cho vay đối với vua chúa, nhằm tài trợ một phần nhu cầu chi tiêu cho chiến tranh. Sau đó, loại hình Ngân hàng này đã sụp đổ do sự chủ quan, ham siêu lợi nhuận, chấp nhận rủi ro cao của các chủ Ngân hàng.
Sự sụp đổ này đã gây khó khăn rất lớn cho hoạt động thanh toán, ảnh hưởng xấu đến hoạt động buôn bán. Hơn thế nữa, lãi suất của những khoản vay lại quá cao cho nên chi phí để sử dụng nguồn vốn này rất cao. Trước tình hình đó, một số nhà buôn đã nhóm lại với nhau và hình thành ra Ngân hàng phục vụ cho chính bản thân họ và một số nhà buôn quen biết khác và gọi là Ngân hàng Thương Mại. Như vậy NHTM được hình thành xuất phát từ Tư bản thương nghiệp và hoạt động của nó gắn liền với quá trình phát triển của Tư bản thương nghiệp.
Ngân hàng Thương mại lúc này đã có những khác biệt tương đối lớn so với Ngân hàng của người thợ vàng, an toàn hơn do hình thức cho vay của Ngân hàng Thương Mại chủ yếu là chiết khấu thương phiếu, là một loại giấy tờ có giá, đảm bảo cho khả năng hoàn trả của khoản vay chứ không phải là hình thức thấu chi như Ngân hàng của người thợ vàng, tuy thời hạn vay mới dừng lại ở các khoản vay ngắn hạn dựa trên quá trình luân chuyển của hàng hoá và đối tượng vay không bao gồm người tiêu dùng, vay trung, dài hạn. Sau đó cùng với quá trình phát triển thăng trầm, sự đổ vỡ cộng với sự phát triển của kinh tế khoa học công nghệ, hoạt động của Ngân hàng đã có bước phát triển rất nhanh. Trước hết, đó là sự tách riêng Ngân Học viên: Nguyễn Đức Tín -9- Khoá 2009-2011 Luận văn cao học Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội hàng Trung ương và Ngân hàng Thương Mại, sự đa dạng hoá các loại hình Ngân hàng và các hoạt động Ngân hàng: các loại hình tài trợ cho vay, các phương thức huy động vốn ngày càng được đa dạng hoá, đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu đa dạng ngày càng cao hơn của nền kinh tế. Không những thế, khi khoa học công nghệ trở thành một yếu tố quan trọng của lực lượng sản xuất xã hội thì hàng loạt các dịch vụ mới ra đời: dịch vụ ATM, dịch vụ Ngân hàng tại gia,… Quá trình phát triển này không những làm gia tăng số lượng mà còn làm tăng quy mô của mỗi Ngân hàng.
Quá trình tích tụ và tập trung vốn đã tạo ra những Ngân hàng cực lớn, kèm theo nó là các thành công trong việc thực hiện các nghiệp vụ mà bản thân Ngân hàng không trực tiếp thực hiện theo quy định của pháp luật. Quá trình phát triển này đã và đang tạo ra mối liên hệ ràng buộc ngày càng chặt chẽ, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các Ngân hàng. Các hoạt động Ngân hàng xuyên quốc gia và đa quốc gia đã và đang tạo ra sự liên kết giữa các Ngân hàng ở trong cùng một nước và giữa các nước với nhau tạo ra những thuận lợi căn bản trong việc tạo ra các chính sách chung hoặc tương thích để kiểm soát chung, để kết nối và tạo sự thống nhất trong điều hành hệ thống Ngân hàng trong mỗi nước và vận hành hệ thống Ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và quốc tế. Lịch sử phát triển của Ngân hàng, không phải là không phải trải qua những thăng trầm, những cuộc khủng hoảng và hoảng loạn trong mỗi quốc gia, khu vực và thế giới, gây ra những tổn thất không phải là nhỏ cho nền kinh tế và gây ra những biến động lớn trong hoạt động chính trị song sau tất cả những gì mà Ngân hàng đã làm được đối với sự phát triển của lịch sử nhân loại thì sự tồn tại và ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nước và trên toàn thế giới là điều không ai phải nghi ngờ.
Chức năng của các Ngân hàng thương mại 1. Trung gian tài chính. Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế: các cá nhân và các tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi Học viên: Nguyễn Đức Tín - 10 - Khoá 2009-2011 Luận văn cao học Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn; loại cá nhân và tổ chức thứ hai là tổ chức cá nhân thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm và nếu như không có Ngân hàng và các trung gian tài chính khác thì để cho những người cần vốn có cơ hội đầu tư tốt và người có vốn mà lại không có cơ hội đầu tư tốt là rất khó, tốn kém nhiều chi phí, lại khó tạo ra được sự phù hợp về quy mô, thời gian vay có thể dẫn đến khả năng bỏ qua cơ hội đầu tư tốt của cả người đi vay và người cho vay. Ngân hàng và các trung gian tài chính khác xuất hiện đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm.
Từ đó mà khuyến khích tiết kiệm đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư từ đó mà khuyến khích đầu tư. Vì vậy mà giải quyết được những khó khăn nêu trên. Hơn thế nữa, Ngân hàng còn có một đội ngũ cán bộ có năng lực cao, có khoa học công nghệ hàng đầu. Do yêu cầu đặc tính của ngành Ngân hàng, nên khả năng thu thập và xử lý thông tin của Ngân hàng có ưu thế rất lớn, đây cũng là nhân tố góp phần làm gia tăng vai trò không thể thiếu được của Ngân hàng trong hoạt động của cả nền kinh tế.
Tạo phương tiện thanh toán. Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông (Mo). Thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch của các khách hàng tại Ngân hàng.
Thứ ba là tiền gửi trên các tài khoản, tiền gửi tiết kiệm, và tiền gửi có kỳ hạn. Do vậy không phải như Ngân hàng của người thợ vàng – tạo phương tiện thanh toán thông qua việc phát hành các giấy nợ với khách hàng hay in tiền kim loại, Ngân hàng ngày nay, khi mà điều kiện thanh toán qua ngân hàng phát triển ngày càng nhanh, Ngân hàng và khách hàng nhận thấy nếu khách hàng có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có được hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu. Và khi Ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên. Do đó bằng việc cho vay Ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán (tham gia tạo ra M1).
Tương tự như vậy toàn bộ hệ thống Ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo ra phương tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay. Học viên: Nguyễn Đức Tín - 11 - Khoá 2009-2011 Luận văn cao học Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 1.3 Trung gian thanh toán. Ở hầu hết các quốc gia hiện nay, Ngân hàng đã trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay.