Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng đầu tư của Ngân hàng Phát triển Việt Nam Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đầu tư tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng Phát triển Việt Nam Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đầu tư tại Sở Giao dịch I - Ngân hàng Phát triển Việt Nam 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐẦU TƢ CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂNVIỆT NAM 1. Tín dụng đầu tƣ của ngân hàng Phát triển Việt Nam 1.Khái niệm tín dụng đầu tư của ngân hàng Phát triển Việt Nam Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “ Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” [23] Như vậy, tín dụng ngân hàng phản ánh mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng và khách hàng trong đó ngân hàng vừa là người đi vay qua việc huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức, vừa là người cho vay bằng việc dùng số tiền huy động được đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Dựa vào thời gian sử dụng vốn vay ta có thể phân tín dụng ngân hàng thành 3 loại: - Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn nhỏ hơn một năm, thường được cho các doanh nghiệp để bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động, cho các nhân vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng hay để sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán của Ngân hàng. - Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Hầu hết nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn thường được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất. Do đó, sự ra đời của NHPTVN đóng vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn trung, 10 dài hạn cho phát triển kinh tế; thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội trong dài hạn một cách có hiệu quả. Đứng trên phương diện NHPTVN cấp tín dụng: Tín dụng NHPTVN là quan hệ vay mượn giữa NHPTVN với khách hàng trong nền kinh tế, trong đó NHPTVN chuyển nhượng cho khách hàng quyền sử dụng một lượng giá trị từ nguồn vốn huy động và vốn chủ sở hữu với những điều kiện và trong một thời gian nhất định mà hai bên đã thỏa thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
Như vậy, có thể nói bản chất của tín dụng đầu tư của Ngân hàng Phát triển Việt Nam: - Là khoản tín dụng đầu tư cho các dự án, chương trình mục tiêu trung và dài hạn; - Nguồn vốn TDĐT phát triển của Nhà nước: Là nguồn vốn ngân sách và coi như ngân sách (vốn điều lệ, vốn cấp phát hỗ trợ vốn huy động công trái do Chính phủ bảo lãnh); - Tổ chức cho vay vốn TDĐT phát triển là Ngân hàng phát triển Việt Nam; - Đơn vị vay vốn là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế… - Đối tượng cho vay: Là các dự án, chương trình mục tiêu kinh tế thuộc diện được ưu tiên đầu tư, khuyến khích đầu tư thuộc danh mục đầu tư do Chính phủ quy định bằng văn bản trong từng thời kỳ nhất định. Vai trò của tín dụng đầu tư của ngân hàng Phát triển Việt Nam Trên thế giới, do nhu cầu chi tiêu NSNN để duy trì hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh… không ngừng tăng, trong khi đó nguồn thu ngân sách lại tăng chậm và hạn chế. Thế nên, cho dù một quốc gia đó có một nền kinh tế giàu có, phát triển hay là một nước nghèo đang chậm phát triển thì hầu hết đều xảy ra tình trạng thâm hụt NSNN. Việc thâm hụt NSNN sẽ thường xuyên và phổ biến hơn đối với các nước đang phát triển, do ngân sách của các nước này luôn trong tình trạng thu không đủ bù chi bởi nền kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn hoặc kém phát triển song song đó, hệ thống cơ sở vật chất và kỹ thuật lại nhỏ bé lạc hậu nên cần có một lượng rất lớn vốn đầu tư phát triển.
Như vậy, có thể thấy rằng sự ra đời của TDDT tại NHPTVN bắt nguồn từ việc phải giải quyết được mâu thuẫn giữa nhu 11 cầu đầu tư phát triển càng ngày càng lớn của nền kinh tế quốc dân với sự giới hạn của nguồn lực tài chính công nhất là NSNN. Vai trò của TDĐT được thể hiện qua một số khía cạnh chủ yếu sau: - TDĐT góp phần chuyển dịch cơ cấu nên kinh thế theo hướng CNH - HĐH đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế. Với trọng tâm là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, đưa công nghiệp trở thành giữ vị trí chủ đạo và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế. - TDĐT là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô các quan hệ cân đối lớn của nền kinh tế và hướng dẫn hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế.
Để khắc phục những khiếm khuyết của thị trường như nạn ô nhiễm môi trường, tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân công xã hội, phát triển không cân đối giữa các vùng miền,… Nhà nước đã dùng rất nhiều công cụ để điều tiết, phân bổ nguồn lực trong đó có nguồn vốn TDĐT được sử dụng như là một công cụ chủ yếu để tài trợ cho các chương trình, dự án đầu tư phát triển của Nhà nước. - TDĐT góp phần giải quyết khó khăn của NSNN trong việc thực hiện nhiệm vụ chi đầu tư phát triển đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay. Trước đây, các dự án đầu tư phát triển được cấp phát hoàn toàn từ NSNN thì bây giờ sẽ được Nhà nước đầu tư thông qua kênh riêng thực hiện TDĐT. Qua đó, đồng vốn đầu tư được cấp phát, giám sát và quản lý có hiệu quả hơn.
- TDĐT góp phần nâng cao vị thế của quốc gia, tạo điều kiện mở rộng và phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại. Trong điều kiện hội nhập và phát triển quốc tế và khu vực ngày càng sâu rộng và mạnh mẽ, nguồn vốn đầu tư quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đây phát triển kinh tế. Chất lƣợng tín dụng đầu tƣ của ngân hàng Phát triển Việt Nam 1. Khái niệm chất lượng tín dụng đầu tư của ngân hàng Phát triển Việt Nam “Chất lượng" là một phạm trù phức tạp nên nó có rất nhiều định nghĩa và quan điểm khác nhau tùy vào mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau.
Tuy nhiên, có một định nghĩa về chất lượng được thừa nhận ở phạm vi quốc tế, đó 12 là định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế (ISO). Theo đó, định nghĩa chất lượng tại điều 3.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2005 là: "Mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có". Do vậy, dựa vào đặc tính của Tín dụng có thể hiểu: “Chất lượng tín dụng của NHTM là sự đáp ứng nhu cầu về vốn vay hoặc tiền gửi của khách hàng nhưng vẫn đảm bảo sự tồn tại, phát triển của Ngân hàng và phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội.” Chất lượng tín dụng không chỉ thể hiện ở 2 khía cạnh Ngân hàng và khách hàng mà còn thể hiện ở khía cạnh xã hội khi cả hai đều là chủ thể trong Nền kinh tế tác động và bị ảnh hưởng bởi môi trường kinh tế đang hoạt động. Do đó, để rõ hơn về chất lượng tín dụng ta có thể tiếp cận với nó trên 3 góc độ: - Đối với khách hàng: khoản tín dụng có chất lượng phải đáp ứng được nhu cầu về vốn vay hoặc về tiền gửi với lãi suất hợp lý, thủ tục thuận tiện và cung cấp đầy đủ các dịch vụ có liên quan.
- Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng làm tốt nhiệm vụ là kênh trung gian về cung cấp nguồn vốn phục vụ sản xuất và kinh doanh, lưu thông hàng hoá, giải quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt các quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế. - Đối với NHTM: Phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với năng lực của Ngân hàng và tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc tín dụng nhưng vẫn đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường. Cho đến nay vẫn chưa thực sự có một định nghĩa chính xác và thống nhất về chất lượng TDĐT của NHPTVN nhưng có thể nói về cơ bản TDĐT cũng là một loại tín dụng do đó đều được đánh giá ở 3 góc độ và phải tuân thủ theo các nguyên tắc tín dụng như: - Đều dựa trên nguyên tắc hoàn trả có thời gian. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, tức phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc.
13 - Đều được đánh giá thông qua các chỉ tiêu có thể tính toán được như nợ quá hạn, nợ xấu, lãi tồn đọng,. - Đều chịu ảnh hưởng của các nhân tố như sự thay đổi của chính sách Nhà nước, xu thế phát triển của nền kinh tế, sự thay đổi của giá cả thị trường, môi trường pháp lý, năng lực quản lý, trình độ cán bộ,. - Cả hoạt động tín dụng của NHTM và TDĐT của NHPTVN đều luôn chứa đựng rủi ro và do đó chất lượng tín dụng của NHTM và TDĐT của NHPTVN cũng đều bị ảnh hưởng.