CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC 1.1 Các quan điểm về đầu tư phát triển.1 Trường phái Keynes và các nhà kinh tế học Mỹ. John May nard Keynes (1884 - 1946) [28] là nhà kinh tế học người Anh, giáo sư trường đại học Cambridge, một nhà hoạt động xã hội, một chuyên gia trong lĩnh vực tài chính và lưu thông tiền tệ, thống đốc ngân hàng Anh, cố vấn kinh tế Chính phủ Anh về ngân khố quốc gia, chủ bút tạp chí Nhà kinh tế. Đầu tư, theo lý thuyết của Keynes là phần tăng thêm giá trị của tư bản trang bị do kết quả hoạt động sản xuất trong thời kỳ nhất định. Đó là phần thu nhập không được chi vào việc tiêu dùng.
Như vậy, đầu tư là kết quả thái độ chung của các nhà kinh doanh. Tổng đầu tư là giá trị các tư liệu lao động chưa trừ đi phần đã hao mòn trong quá trình sản xuất, còn nếu trừ đi phần đó thì có đầu tư thuần tuý (hoặc đầu tư ròng). Nói khác đi đầu tư ròng bằng tổng đầu tư trừ đi hao mòn tài sản cố định. Theo Keynes, đầu tư có ảnh hưởng lớn đến việc làm, giữa đầu tư và thu nhập có mối quan hệ gắn bó với nhau.
Quan hệ giữa tăng thu nhập với gia tăng đầu tư (cụ thể là sự gia tăng đầu tư sẽ làm cho thu nhập gia tăng lên bao nhiêu lần) đó là số nhân đầu tư. Keynes cho rằng, mỗi sự gia tăng của đầu tư sẽ thu hút thêm công nhân vào làm việc tức là cầu thêm về lao động, cầu thêm về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, từ đó làm cho thu nhập của công nhân tăng lên. Thu nhập tăng lên là tiền đề cho việc gia tăng của đầu tư. Như vậy trong quan hệ đó có tác dụng mang tính dây truyền: Tăng đầu tư làm tăng thu nhập, tăng thu nhập mới làm tăng đầu tư mới, tăng đầu tư mới lại làm tăng thu nhập mới (làm phóng đại thu nhập lên nhiều lần).
Keynes cho rằng đầu tư của Chính phủ có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế: Trước tiên là giải quyết việc làm, đó là đầu tư cho sự phát triển. Keynes khẳng định cần có Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế thị trường (điều này trái ngược với 4 quan điểm của trường phái của các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển và tân cổ điển về vai trò của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường). Trên cơ sở phân tích các nguyên nhân gây thiếu hụt đầu tư Keynes đưa ra những kiến nghị mà tập trung nhất là sử dụng ngân sách Nhà nước (NSNN) để kích thích đầu tư tư nhân và bản thân Nhà nước cần chủ động đầu tư (ĐTPT) cụ thể là: Nhà nước cần thực hiện tăng thêm những đơn đặt hàng đối với các công ty, trước hết với các công ty lớn về các công trình xây dựng kết cấu hạ tầng, sản xuất hàng tiêu dừng. đó là biện pháp tăng đầu tư về tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng và cầu về sức lao động.
Tăng cường trợ cấp tài chính tín dụng từ ngân sách để đảm bảo tỷ suất lợi nhuận và lợi nhuận cho các tổ chức độc quyền, cũng có nghĩa là đảm bảo hiệu quả đầu tư ở mức độ có lợi cho các doanh nghiệp (DN), nhất là các DN lớn để họ yên tâm đầu tư. Các biên pháp Nhà nước cần áp dụng đó là giảm lãi suất, thực hiện tín dụng ưu đãi với những chương trình "trọng điểm" giảm thuế với các DN nhằm khuyến khích đầu tư. Thực hiện "lạm phát có mức độ", Ông cho rằng để tăng đầu tư bằng việc giảm lãi suất cần phải tăng số lượng tiền tệ vào lĩnh vực lưu thông, thực hiện "lạm phát có mức độ" đó là biện pháp để kích thích thị trường và không có gì nguy hiểm khi nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng ứng với sản lượng và việc làm cao hơn thì lạm phát tự động dừng lại. Cần tăng thuế để điều tiết một phần thu nhập trong dân cư đưa vào ngân sách để đầu tư, thực hiện phát hành công trái để bổ sung cho ngân sách.
Việc tăng thu của ngân sách sẽ tạo điều kiện tăng chi cho mục đích ĐTPT. Thực hiện khuyến khích mở rộng các hình thức đầu tư, các lĩnh vực đầu tư. theo Ông đầu tư vào lĩnh vực nào cũng tốt vì như vậy sẽ giải quyết được việc làm có thêm thu nhập, chống được khủng khoảng và thất nghiệp. Bổ sung vào lý thuyết "số nhân" của J.
Lý thuyết này không những nghiên cứu các quyết định đầu tư, mà còn chứng minh mối liên hệ giữa gia tăng sản lượng làm cho đầu tư 5 tăng lên và sau đó đầu tư tăng lên sẽ gia tăng sản lượng với nhịp độ nhanh hơn. Sự tăng nhanh tốc độ đầu tư so vối sự thay đổi về sản lượng nói lên ý nghĩa của nguyên tắc "gia tốc". Theo lý thuyết "gia tốc", để vốn đầu tư tiếp tục tăng lên thì sản lượng bán ra phải tăng lên liên tục. Nhưng Lôgích của vấn đề là ở chỗ, số lượng sản phẩm bán ra ngày hôm nay là kết quả đầu tư của thời kỳ trước, năm trước.
Thực tế của các nưóc Châu Á đã chứng minh lý thuyết trên. Cách đây vài ba thập kỷ, Châu Á không được biết đến với tư cách là vùng kinh tế có tăng trưởng. Nhưng sự phát triển của khoa học kỹ thuật và mở rộng giao lưu quốc tế đã làm thay đổi dần bộ mặt của các nước và một số lãnh thổ trong vùng. Cơn lốc của sự tăng trưỏng kinh tế của các nước phát triển đã tràn đến Châu Á để tìm thị trường mới và từ đó Châu Á bắt đầu được biết đến như một vùng kinh tế mới.
Khi nền kinh tế thế giới dao động ở tốc độ tăng trưởng 3 - 5% mỗi năm thì các nước và các lãnh thổ đang phát triển như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, từ điểm xuất phát thấp, tài nguyên nghèo nàn, thị trường nội địa nhỏ, đã trở thành những nước và lãnh thổ công nghiệp mới xuất phát từ nông nghiệp. Đặc trưng của các nơi này là quá trình công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng làm thay đổi cơ cấu kinh tế, từ nông - công nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp. Sở dĩ đạt được sự phát triển thần kỳ đó vì các nơi này đã khai thác một cách tối đa lợi thế so sánh. Một chiến lược đầu tư cao được thực hiện trong những năm đầu công nghiệp hóa, có nơi đạt 40% GDP như Singapore, các nơi khác còn lại trên 30% GDP.
Tóm lại: Có thể nói đầu tư là tổng thể các chi phí phản ảnh quá trình bỏ vốn vào tái sản xuất mở rộng nó bao gồm đầu tư để phát triển vốn cố định, tăng vốn lưu động sản xuất và vốn lưu thông. Như vậy bản thân đầu tư đã bao hàm cả sự phát triển còn ĐTPT chỉ là cụm từ nhằm nhấn mạnh thêm.2 Quan điểm của các nhà kinh tế học Việt Nam [14] - Đầu tư theo nghĩa rộng có thể hiểu là quá trình bỏ vốn (bao gồm cả tiền, nguồn lực và công nghệ) để đạt được mục đích (hay mục tiêu) nhất định [29]. Đó có thể là những mục tiêu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. 6 - Đầu tư theo nghĩa hẹp: + Thứ nhất, có thể hiểu đầu tư là việc đưa một lượng vốn nhất định vào quá trình hoạt động kinh tế nhằm thu lại được một lượng lớn hơn sau một khoảng thời gian nhất định.
Điều này sẽ giúp chúng ta phân biệt được hoạt động đầu tư và các động nhân đạo khác. Cần phân biệt các hoạt động đầu tư với các hoạt động bỏ tiền nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của các tổ chức. Các tổ chức phải chi phí một khoản tiền rất lớn cho các hoạt động mang tính thường xuyên của đơn vị nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất được duy trì. Hoạt động đó có thể gọi là hoạt động sản xuất, kinh đoanh(SX-KD).
Còn hoạt động đầu tư nhằm mục đích nâng cao năng lực sản xuất (cả về số lượng và chất lượng) cũng như tạo ra các năng lực sản xuất mới. + Thứ hai, có thể hiểu khái niệm đầu tư theo quan điểm tái sản xuất mở rộng. Đầu tư thực tế là quá trình chuyển hoá vốn thành các yếu tố cần thiết cho việc tạo ra năng lực sản xuất, tạo ra những yếu tố cơ bản, tiên quyết cho quá trình phát triển sản xuất. Đây là hoạt động mang tính chất thường xuyên của mọi nền kinh tế và là cơ sở của sự phát triển tăng trưởng kinh tế.
Đầu tư vào các hoạt động kinh tế luôn được biểu hiện dưới những mục tiêu kinh tế - xã hội cụ thể. Chính vì vậy, các hoạt động đầu tư luôn phải vạch ra được các mục tiêu cụ thể. Xác định cụ thể mục tiêu là nhân tố đảm bảo cho hoạt động đầu tư đem lại hiệu quả cao. Bản chất cơ bản của hoạt động đầu tư: Là quá trình bỏ vốn (tiền, nhân lực, nguyên liệu, công nghệ.) vào các hoạt động sản xuất - kinh doanh (SX-KD) và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận.
- Có hai hình thức đầu tư: Đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. + Đầu tư gián tiếp là hình thức bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm đem lại hiệu quả cao cho bản thân người có vốn cũng như cho xã hội, nhưng người có vốn không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Hoạt động đầu tư gián tiếp được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: mua cổ phiếu, tín phiếu, tín dụng. Đây là loại hình đầu tư khá phát triển hiện nay.
Những người có vốn hoặc họ không 7 biết kinh doanh hoặc họ không thích nghề này và không có điều kiện tham gia hoạt động đầu tư trực tiếp đã lựa chọn hình thức gián tiếp. Chính phủ của một số nước trên thế giới đã thông qua các chương trình tài chính cho Chính phủ của một số nước khác vay với một lãi suất ưu đãi cũng là một hình thức đầu tư gián tiếp. Đầu tư gián tiếp có thể là đầu tư tài chính với sự tham gia của các tổ chức kinh doanh tiền tệ. + Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư mà người có vốn tham gia trực tiếp vào hoạt động và quản lý hoạt động đầu tư.
Hoạt động đầu tư này có thể thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: Hợp đồng, liên doanh, các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.