Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và chất lượng quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại 1. Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng Ngân hàng thương mại Tín dụng của Ngân hàng nói chung được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay là Ngân hàng và bên đi vay, trong đó Ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay trong một thời gian, trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho Ngân hàng khi đến hạn.
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại. Dư nợ tín dụng thường chiếm trên 50% tổng tài sản của Ngân hàng thương mại và thu nhập từ tín dụng thường chiếm 70%-90% tổng thu nhập của Ngân hàng thương mại. Bên cạnh việc đem lại thu nhập chính cho Ngân hàng thì rủi ro trong kinh doanh cũng có xu hướng tập trung vào danh mục tín dụng. Chính vì vậy mà hoạt động tín dụng luôn là mối quan tâm lớn nhất của các Ngân hàng thương mại cũng như thanh tra Ngân hàng.
Phân loại tín dụng Ngân hàng thương mại Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại này có ý nghĩa là tiền đề để thiết lập các quy trình tín dụng thích hợp và nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng. + Căn cứ theo hình thức - Chiết khấu thương phiếu: là việc Ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của Ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn. c 6 - Cho vay: là việc Ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi trong một khoảng thời gian xác định.
- Bảo lãnh: là việc Ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết của mình. - Cho thuê tài chính: là việc Ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những thỏa thuận nhất định. Sau một thời gian nhất định, khách hàng phải trả cả gốc và lãi cho Ngân hàng. Thường là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là Ngân hàng và khách hàng thuê.
Khi hết thời gian thuê, khách hàng có thể mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê. + Căn cứ theo thời hạn cho vay Căn cứ vào thời hạn cho vay, hoạt động tín dụng có thể chia thành: - Tín dụng ngắn hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn đến 12 tháng. - Tín dụng trung hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng (có thể khác nhau ở mỗi nước). Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới các thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn từ trên 60 tháng, có thể kéo dài đến 20 -30 năm hoặc thậm chí lâu hơn. Tín dụng dài hạn được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp lớn. Việc phân loại tín dụng theo thời hạn có ý nghĩa quan trọng vì thời gian có quan hệ mật thiết đến tính an toàn, rủi ro, sinh lợi của Ngân hàng đến khả năng hoàn trả nợ của khách hàng. + Căn cứ theo khách hàng vay vốn - Tín dụng đối với hộ gia đình, cá nhân: Là loại hình cho vay nhu cầu sản xuất kinh doanh, tiêu dùng của hộ gia đình, cá nhân.
Thời hạn cho vay có thể là c 7 ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy theo mục đích sử dụng vốn vay và nguồn trả nợ của hộ gia đình, cá nhân. - Tín dụng đối với tổ chức/ doanh nghiệp: Là loại hình cho vay để phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy vào nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra, còn có thể phân chia loại hình tín dụng theo phương pháp hoàn trả, mức độ tín nhiệm với khách hàng.
Ý nghĩa của hoạt động tín dụng đối với Ngân hàng Trong nền kinh tế thị trường, cung cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của Ngân hàng, là cơ sở chủ yếu để đánh giá chất lượng hoạt động của Ngân hàng. Đối với hầu hết các Ngân hàng, dư nợ tín dụng thường chiếm hơn 1/2 “tổng tài sản có” và thu nhập từ tín dụng chiếm phần lớn tổng thu nhập của Ngân hàng. Cấp tín dụng còn là khởi điểm của việc khách hàng sử dụng nhiều dịch vụ phi tài sản của Ngân hàng. Mặc dù đem lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng nhưng hoạt động tín dụng cũng chính là hoạt động ẩn chứa nhiều rủi ro nhất.
Do đó cần được sự chú ý đặc biệt của các nhà quản trị Ngân hàng thương mại cũng như công tác giám sát, điều chỉnh hoạt động của Ngân hàng trung ương. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM 1. Khái niệm về rủi ro tín dụng - Rủi ro: Có thể được hiểu khái quát đó là khả năng xảy ra các biến cố không lường trước được, khi xảy ra sẽ làm cho kết quả thực tế khác kết quả kỳ vọng theo kế hoạch. - Rủi ro Ngân hàng: Ngân hàng với chức năng trung gian tài chính giữa người cho vay và người đi vay, là kênh dẫn vốn quan trọng nhất trong nền kinh tế.
Hoạt động Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường rất nhạy cảm, có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan như kinh tế, chính trị, xã hội. Hơn nữa, Ngân hàng không chỉ hoạt động trong lĩnh vực huy động vốn mà còn rất nhiều lĩnh vực khác như cho vay, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, chứng khoán, phát hành thẻ. Do c 8 đó, hoạt động của các Ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Rủi ro chung đối với một Ngân hàng có nghĩa là mức độ không chắc chắn liên quan đến những sự kiện, những tình huống gây nên tổn thất kinh tế, làm chi phí tăng lên, thu nhập và lợi nhuận Ngân hàng giảm đi so với dự kiến ban đầu.
Rủi ro có thể được đo lường cho các sản phẩm, dịch vụ khác nhau của Ngân hàng. Thông thường mức lợi nhuận Ngân hàng càng cao thì xác xuất xảy ra rủi ro cũng càng cao. Các Ngân hàng được coi là kinh doanh thành công khi mức độ rủi ro của họ được giữ ở mức hợp lý, được kiểm soát trong phạm vi và năng lực hoạt động tài chính của Ngân hàng. - Rủi ro tín dụng Ngân hàng: Rủi ro tín dụng Ngân hàng là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện được các nghĩa vụ tài chính đối với Ngân hàng.
Đây là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và thường gây hậu quả nặng nề nhất cho Ngân hàng. Rủi ro tín dụng là rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Rủi ro tín dụng nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời sẽ làm nảy sinh các rủi ro khác. Nguyên nhân xảy ra rủi ro tín dụng của Ngân hàng * Nguyên nhân khách quan Khi thẩm định cho vay, cán bộ tín dụng cần phân tích các yếu tố thiết yếu trong quá khứ, hiện tại, tương lai có ảnh hưởng đến tình hình trả nợ vay của khách hàng.
Tuy nhiên, những tình huống giả định trong tương lai không phải khi nào cũng diễn ra, cũng được kiểm soát. Sự tác động của môi trường bên ngoài thường khó dự đoán, vượt quá tầm kiểm soát gây ra những thiệt hại lớn cho người vay và Ngân hàng, bao gồm các loại sau: - Sự thay đổi chính sách của chính phủ ảnh hưởng đến tình hình tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng. Chính sách kinh tế vĩ mô ổn định sẽ giúp cho hoạt động của khách hàng ít bị biến động, do vậy mà việc dự báo về tình hình tài chính, kinh doanh của khách hàng cũng thuận lợi hơn và ngược lại. Chính sách c 9 của chính phủ ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, qua đó tác động đến hoạt động của Ngân hàng trên các phương diện: + Chính sách thuế: Chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí của doanh nghiệp.
Khi chính phủ có những thay đổi về chính sách thuế, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị tác động và có ảnh hưởng đến nguồn thu của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến nguồn trả nợ Ngân hàng. + Chính sách xuất - nhập khẩu vật tư, thiết bị: Khi có bất kỳ sự thay đổi nào về chính sách xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị sẽ ảnh hưởng tức thời và trực tiếp đến chi phí và doanh thu của doanh nghiệp, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh và làm giảm doanh thu, từ đó gây khó khăn trong việc trả nợ Ngân hàng và vì vậy rủi ro tín dụng Ngân hàng tăng lên. + Chính sách chung liên quan các yếu tố đầu vào: Chính sách này cũng gây tác động trực tiếp đến chi phí doanh nghiệp, có thể đẩy doanh nghiệp vào khó khăn và mất khả năng trả nợ Ngân hàng. - Môi trường tự nhiên: Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh và đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố khó dự đoán, nằm ngoài tầm kiểm soát của con người nên tổn thất do tự nhiên gây ra cũng ảnh hưởng rất lớn đến phương án kinh doanh của khách hàng.