CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VAY VỐN TDXK TẠI NHPT VIỆT NAM 1.1 Tín dụng xuất khẩu và vai trò của phân tích tài chính đối với nghiệp vụ tín dụng xuất khẩu tại NHPT 1.1 Khái quát về Ngân hàng phát triển Việt Nam Ngân hàng Phát triển Việt Nam là một tổ chức tài chính của Nhà nước, được thành lập theo Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg ngày 19/05/2006 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB) kế thừa mọi quyền lợi, trách nhiệm từ Quỹ Hỗ trợ phát triển. Điều lệ tổ chức và hoạt động của VDB do Thủ tướng Chính phủ quy định; có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có con dấu, được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng thương mại trong nước và nước ngoài, được tham gia hệ thống thanh toán với các ngân hàng và cung cấp dịch vụ thanh toán theo quy định của pháp luật. VDB thuộc sở hữu Nhà nước, có vốn điều lệ là 10.
Hoạt động của VDB không vì mục đích lợi nhuận, nhưng phải đảm bảo an toàn vốn và bù đắp chi phí, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi; được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước đối với hoạt động tín dụng ĐTPT, TDXK của Nhà nước. Đây vừa là đặc điểm vừa là sự khác biệt của NHPT so với các tổ chức tài chính khác. Vì thế, VDB không thuộc sự điều chỉnh của Luật Ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Nguồn vốn hoạt động của VDB bao gồm: vốn điều lệ; vốn ngân sách nhà nước cấp bổ sung hàng năm cho mục tiêu tín dụng đầu tư và tín dụng 5 xuất khẩu; vốn ODA được Chính phủ giao để cho vay lại; phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi; vay của Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện, quỹ Bảo hiểm xã hội và các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước; vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức trong và ngoài nước; vốn nhận uỷ thác, cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách hàng từ các tổ chức trong và ngoài nước thông qua Hợp đồng nhận ủy thác giữa VDB với các tổ chức ủy thác; các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật.
Hiện nay, theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu và Nghị định số 106/2008/NĐ-CP ngày 19/9/2008 về sửa đổi bổ sung Nghị định số 151, VDB có một số hoạt động chính sau: - Huy động, tiếp nhận vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện nghiệp vụ tín dụng Nhà nước theo quy định của Chính phủ. - Thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển: Cho vay đầu tư phát triển; Hỗ trợ sau đầu tư; Bảo lãnh tín dụng đầu tư. - Thực hiện chính sách tín dụng xuất khẩu: Cho vay xuất khẩu; Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu; Bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu. - Nhận ủy thác quản lý nguồn vốn ODA được Chính phủ cho vay lại; nhận ủy thác, cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách hàng từ các tổ chức trong và ngoài nước.
- Ủy thác cho các tổ chức tài chính, tín dụng thực hiện nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng phát triển. - Cung cấp các dịch vụ thanh toán , tham gia hệ thống thanh toán trong nước và quốc tế phục vụ hoạt động của Ngân hàng phát triển theo 6 quy định của pháp luật. - Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu. - Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ giao.
Với tính chất cho vay ưu đãi, hoạt động cho vay tín dụng đầu tư và cho vay xuất khẩu của VDB thường có lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay thương mại trên thị trường. Trong trường hợp lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất huy động, VDB được ngân sách nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất. VDB cũng được ngân sách cấp phí quản lý đối với hoạt động tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu. Đây cũng là điểm hết sức khác biệt của VDB so với các tổ chức tài chính tín dụng khác.2 Nghiệp vụ tín dụng xuất khẩu tại NHPT Tín dụng xuất khẩu là một trong những chính sách của Nhà nước nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu các mặt hàng thuộc Danh mục mặt hàng vay vốn TDXK ban hành theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP.
Danh mục mặt hàng vay vốn tín dụng xuất khẩu gồm 28 mặt hàng thuộc 04 nhóm: hàng nông, lâm, thuỷ sản; hàng thủ công mỹ nghệ; sản phẩm công nghiệp; máy tính nguyên chiếc, phụ kiện máy tính và phần mềm tin học. Theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP, tín dụng xuất khẩu bao gồm 04 hình thức: cho nhà xuất khẩu Việt Nam vay; cho nhà nhập khẩu nước ngoài vay; bảo lãnh TDXK; bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Cho nhà xuất khẩu Việt Nam vay là nghiệp vụ VDB cho nhà xuất khẩu Việt Nam vay vốn với một số điều kiện tín dụng ưu đãi để thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá, sản phẩm thuộc danh mục mặt hàng vay vốn TDXK trong khoảng thời gian tối đa 1 năm, trừ một số trường hợp ngoại lệ khác. Các điều kiện tín dụng ưu đãi cụ thể là lãi suất cho vay thấp, bình 7 quân khoảng 60% - 70% lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại; ngoài ra, về điều kiện bảo đảm tiền vay, các doanh nghiệp vay vốn tại VDB chỉ cần thế chấp bằng chính tài sản hình thành từ vốn vay hoặc tài sản khác với giá trị tối thiểu bằng 15% mức vốn vay trong khi vay vốn tại các NHTM, phần lớn các NHTM duyệt mức cho vay tối đa bằng 70% giá trị tài sản bảo đảm.
Do vậy, với hai điều kiện tín dụng ưu đãi chủ yếu như trên, hình thức cho nhà xuất khẩu Việt Nam vay thu hút phần lớn sự quan tâm của các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu tại Việt Nam. Cho nhà nhập khẩu nước ngoài vay là nghiệp vụ VDB cho nhà nhập khẩu nước ngoài vay vốn để thực hiện nhập khẩu hàng hoá ký với nhà xuất khẩu Việt Nam mà hàng hoá đó thuộc Danh mục mặt hàng vay vốn TDXK ban hành theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP. Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu là cam kết của VDB (bên bảo lãnh) với tổ chức cho vay vốn (bên nhận bảo lãnh) thực hiện Hợp đồng xuất khẩu về việc sẽ trả nợ thay khách hàng (bên được bảo lãnh) trong trường hợp khách hàng không trả hoặc trả nợ không đủ cho bên nhận bảo lãnh. Bảo lãnh dự thầu xuất khẩu là cam kết của VDB (bên bảo lãnh) với bên mời thầu (bên nhận bảo lãnh), để đảm bảo nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng (bên được bảo lãnh).
Trường hợp khách hàng phải nộp phạt do vi phạm quy định đấu thầu mà không nộp hoặc nộp không đầy đủ tiền phạt cho bên mời thầu thì VDB sẽ thực hiện nộp phạt thay. Bảo lãnh thực hiện Hợp đồng xuất khẩu là cam kết của VDB (bên bảo lãnh) với nhà nhập khẩu (bên nhận bảo lãnh), đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của khách hàng (bên được bảo lãnh) theo hợp đồng xuất khẩu đã ký với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng và phải bồi thường thiệt hại cho bên nhận bảo lãnh mà không hoặc thực hiện không đầy đủ thì VDB sẽ thực hiện bồi thường thay. 8 Trong các hình thức TDXK nêu trên, hình thức cho nhà xuất khẩu Việt Nam vay được áp dụng phổ biến nhất.
Các hình thức còn lại, do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nên chưa được triển khai áp dụng rộng rãi.3 Vai trò của công tác phân tích tài chính đối với TDXK tại NHPT “Phân tích tài chính doanh nghiệp là một quá trình kiểm tra, xem xét các số liệu về tài chính hiện hành và trong quá khứ nhằm mục đích đánh giá thực trạng tài chính, dự tính các rủi ro và tiềm năng tương lai của một doanh nghiệp, trên cơ sở đó giúp cho nhà phân tích ra các quyết định tài chính có liên quan tới lợi ích của họ trong doanh nghiệp đó. Phân tích tình hình tài chính là việc sử dụng các phương pháp phân tích khác nhau để đánh giá tình hình tài chính trên cơ sở hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Hệ thống báo cáo tài chính được lập trên cơ sở tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán chi tiết, phản ánh tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn, tình hình sản xuất kinh doanh và kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Thông qua công tác phân tích tài chính doanh nghiệp, người phân tích sẽ có được những thông tin hữu ích về tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp.
Phân tích các chỉ tiêu tài chính giúp cho ngân hàng đánh giá, nhận định về mức độ lành mạnh tài chính và khả năng đảm bảo nợ vay của khách hàng, từ đó ra quyết định cho vay hay không, và nếu chấp thuận cho vay thì mức vốn như thế nào? Việc phân tích tài chính thường xuyên giúp ngân hàng nắm bắt được tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng, phát hiện kịp thời những rủi ro tiềm tàng để có các biện pháp xử lý phù hợp như gia hạn nợ, trích lập dự phòng rủi ro hợp lý, xử lý tài sản bảo đảm nợ vay khi cần thiết, nhằm đảm bảo khả năng an toàn vốn, nâng cao chất lượng của công tác tín dụng. 9 Bên cạnh đó, thông qua phân tích tình hình tài chính, ngân hàng có căn cứ để chấm điểm xếp hạng khách hàng.