đặt vấn đề con ngƣời là trung tâm trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều nơi coi chiến lƣợc con ngƣời là linh hồn của chiến lƣợc kinh tế - xã hội, nhấn mạnh vai trò của khoa học về con ngƣời - nghiên cứu con ngƣời. Thuật ngữ "nguồn nhân lực" xuất hiện lần đầu vào những năm 80 của thế kỷ XX khi có sự thay đổi căn bản về phƣơng thức quản lý hiện đại - quản lý trên cơ sở lấy con ngƣời, tức nhân viên làm trung tâm thay vì cứng nhắc đặt Công ty đứng hàng đầu. Xét trên tầm vĩ mô của nền kinh tế, theo PGS.
Nguyễn Ngọc Quân và ThS. Nguyễn Vân Điềm, Giáo trình Quản trị nhân lực: "Nguồn nhân lực là nguồn lực của con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định"[11]. Và theo PGS. Trần Xuân Cầu và PGS.
Mai Quốc Chánh, Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực: "Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo 5 ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội"[3]. Xét trên góc độ vi mô, trong từng Công ty thì: "Bất cứ tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người hay nguồn nhân lực của nó. Do đó, có thể nói nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực"[2].
Theo tác giả Lê Thị Mỹ Linh, Luận án tiến sỹ: "Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm trong tổ chức đó có sức khỏe và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp"[8]. Khái niệm này đã chỉ ra đƣợc sức mạnh tiềm ẩn của nguồn nhân lực trong tổ chức khi họ đƣợc động viên, khuyến khích kịp thời. Nói về nguồn nhân lực, Đảng ta xác định: "Nguồn lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại". Còn trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực thì định nghĩa: "Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người".
Đây là cách tiếp cận nhấn mạnh về chất lƣợng nguồn nhân lực, quan tâm đến tiềm năng của con ngƣời. Chất lượng nguồn nhân lực 1. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Chất lƣợng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành lên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Trong mỗi doanh nghiệp, chất lƣợng nguồn nhân lực không chỉ phản ánh trình độ phát triển về mặt kinh tế mà nó còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về đời sống của mỗi thành viên trong doanh nghiệp đó, bởi lẽ chất lƣợng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tƣ cách không chỉ là một nguồn lực quan trọng của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ lành mạnh của bầu không khí văn hoá trong mỗi doanh nghiệp nhất định.
Chất lƣợng nguồn nhân lực thể hiện qua các chỉ tiêu nhƣ: thể lực (sức khoẻ cơ thể, sức khoẻ tinh thần, điều kiện để chăm sóc sức khoẻ,.), trí lực (trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật, năng lực,.), phẩm chất đạo đức (ý thức kỷ luật, tính hợp tác, ý thức trách nhiệm, sự chuyên tâm,. Chất lƣợng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trƣng về trạng thái thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức. Nó thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tƣ cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Trong đó: - Thể lực của con ngƣời chịu ảnh hƣởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe và rèn luyện của từng cá nhân cụ thể.
Một cơ thể khỏe mạnh, thích nghi với môi trƣờng sống thì năng lƣợng do nó sinh ra sẽ đáp ứng yêu cầu của một hoạt động cụ thể nào đó. Thể lực có ý nghĩa quan trọng quyết định năng lực hoạt động của con ngƣời. Phải có thể lực con ngƣời mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội. - Trí lực đƣợc xác định bởi tri thức chung về khoa học, trình độ kiến thức chuyên môn, kỹ năng kinh nghiệm làm việc và khả năng tƣ duy xét đoán 7 của mỗi con ngƣời.
Trí lực thực tế là một hệ thống thông tin đã đƣợc xử lý và lƣu giữ lại trong bộ nhớ của mỗi cá nhân con ngƣời, đƣợc thực hiện qua nhiều kênh khác nhau. Nó đƣợc hình thành và phát triển thông qua giáo dục đào tạo cũng nhƣ quá trình lao động sản xuất. - Phẩm chất đạo đức là những đặc điểm quan trọng trong yếu tố xã hội của nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ những tình cảm, tập quán phong cách, thói quen, quan niệm, truyền thống, các hình thái tƣ tƣởng, đạo đức và nghệ thuật., gắn liền với truyền thống văn hóa. Một nền văn hóa với bản sắc riêng luôn là sức mạnh nội tại của một dân tộc.
Các yếu tố này có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại, là tiền đề phát triển của nhau. Muốn nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực phải nâng cao cả ba mặt: thể lực, trí lực và phẩm chất đạo đức. Tuy nhiên mỗi yếu tố trên lại liên quan đến một lĩnh vực rất rộng lớn. Thể lực và tình trạng sức khỏe gắn với dinh dƣỡng, y tế và chăm sóc sức khỏe.
Trí lực gắn với lĩnh vực giáo dục đào tạo, còn phẩm chất đạo đức chịu ảnh hƣởng của truyền thống văn hóa dân tộc, nền tảng văn hóa và thể chế chính trị. Khái niệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực về cơ bản đƣợc hiểu là tăng giá trị cho con ngƣời trên các mặt thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức thông qua các chính sách phát triển nguồn nhân lực giúp con ngƣời có những năng lực, phẩm chất mới cao hơn để có thể hoàn thành tốt hơn mục tiêu của doanh nghiệp và của chính bản thân họ. Trong phạm vi của luận văn này, tác giả đề cập đến vấn đề chất lƣợng nguồn nhân lực của doanh nghiệp chủ yếu dựa trên việc tiếp cận, nghiên cứu, đánh giá cơ cấu, số lƣợng và các tiêu chí phản ánh chất lƣợng hiện tại của nhân sự cùng những chính sách quản trị ảnh hƣởng tới chất lƣợng nguồn nhân lực. Từ đó, đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực 8 trong phạm vi một doanh nghiệp, cụ thể là Công ty TNHH một thành viên 19- 5, Bộ công an.
Đặc điểm chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp Nhìn chung ngƣời lao động ở Việt Nam có tƣ chất thông minh, sáng tạo, có khả năng vận dụng và thích ứng nhanh. Những phẩm chất này khẳng định năng lực trí tuệ của lao động Việt Nam có thể theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ hiện đại. Nếu đƣợc đào tạo và sử dụng hợp lý, ngƣời lao động nƣớc ta có khả năng làm chủ đƣợc các loại hình công nghệ từ đơn giản đến phức tạp và hiện đại. Tuy nhiên phải khách quan thừa nhận rằng năng lực chuyên môn, trình độ tay nghề, khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động của ngƣời lao động nƣớc ta còn rất hạn chế, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu.
Tỷ lệ ngƣời lao động đã qua đào tạo ở nƣớc ta còn quá thấp, đặc biệt là đội ngũ công nhân. Cơ cấu lao động ở Việt Nam phân bổ không đều, tình trạng "thừa thầy thiếu thợ" diễn ra phổ biến. Theo thống kê của Bộ lao động - thƣơng binh và xã hội, cơ cấu lao động hiện nay là 1 - 0,8 - 3,7 tức là cứ 100 lao động có trình độ cao đẳng trở lên thì có 80 lao động có trình độ trung cấp và 370 công nhân kỹ thuật trong khi cơ cấu lao động của các nƣớc phát triển là 1 - 12 - 24 (cứ 100 lao động có trình độ cao đẳng trở lên thì có 1.200 lao động có trình độ trung cấp và 2.400 công nhân kỹ thuật). Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực Chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc hình thành nên từ nhiều phía: từ bản thân các cá nhân nguồn nhân lực từ những chính sách quản lý nguồn nhân lực một cách phù hợp và từ những tác động từ bên ngoài doanh nghiệp, về phía ngƣời lao động, trƣớc hết mỗi ngƣời phải có ý thức đƣợc công việc mình đảm nhận với một tinh thần trách nhiệm cao, ít nhất cũng phải đáp ứng đƣợc các yêu cầu của nhà quản lý.
Tuy nhiên, khi làm việc trong một tập thể, họ sẽ nhƣ 9 đƣợc rèn luyện trong một khuôn khổ nhất định mà các nhà quản lý đề ra, thông qua các quy chế hoạt động và các chính sách quản lý của mình, ở đây ta sẽ xem xét các yếu tố ảnh hƣởng tới chất lƣợng nguồn nhân lực dƣới góc độ của một nhà quản lý, từ đó có thể đƣa ra những chính sách phù hợp trong chiến lƣợc nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực. Các yếu tố đầu vào của nguồn nhân lực Doanh nghiệp muốn sở hữu một nguồn nhân lực chất lƣợng cao trƣớc tiên cần phải kiếm soát tốt đầu vào của nguồn nhân lực tức là làm tốt công tác tuyển mộ, tuyển chọn nhân lực. Tuyển mộ là quá trình thu hút những ngƣời tìm việc có trình độ từ nguồn nhân lực từ bên ngoài doanh nghiệp. Chất lƣợng quá trình tuyển mộ ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả của quá trình tuyển chọn.
Trong thị trƣờng lao động có rất nhiều ngƣời lao động có trình độ, năng lực cao nhƣng họ không đƣợc tuyển chọn bởi họ không biết đƣợc thông tin tuyển mộ hoặc không có cơ hội nộp đơn xin việc.