CHƯƠNG 1: MỞ RỘNG TÍN DỤNG CHO DOANH NGHIỆP VI MÔ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TÍN DỤNG CHO DOANH NGHIỆP VI MÔ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm tín dụng doanh nghiệp vi mô tại ngân hàng thương mại 1. Doanh nghiệp vi mô a.
Khái niệm doanh nghiệp vi mô Cho đến nay, không có một định nghĩa thống nhất về doanh nghiệp vi mô trên thế giới, mỗi tổ chức quốc tế, mỗi quốc gia dựa vào điều kiện cụ thể của từng giai đoạn phát triển để định nghĩa. Doanh nghiệp vi mô (Super small enterprises) được các tổ chức quốc tế, các quốc gia phân loại theo một số tiêu chí sau: Quy mô vốn, quy mô lao động, doanh thu, tài sản, chi phí, tính độc lập không phụ thuộc của doanh nghiệp. Nhóm Ngân hàng Thế giới xác định: SSE là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, tổng tài sản có giá trị không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không quá 100. Liên minh Châu Âu sử dụng ba tiêu chí là số lao động, doanh thu hàng năm và giá trị tài sản để định nghĩa doanh nghiệp vi mô, nhỏ và vừa.
Tiêu chí số lao động luôn luôn được giữ cố định trong khi hai tiêu chí còn lại có thể linh hoạt bằng việc kết hợp tiêu chí số lao động với một trong hai tiêu chí doanh thu hoặc giá trị tài sản. Theo khuyến nghị của Ủy ban Châu Âu số 96/280, tiêu chí xác định SSE căn cứ vào số lao động (dưới 10 người) và phải là các doanh nghiệp độc lập. Một doanh nghiệp độc lập là một doanh nghiệp không bị các doanh nghiệp hoặc các nhóm doanh nghiệp khác sở hữu 25% hoặc hơn nữa số tài sản của doanh nghiệp đó. Ngày 6/5/2003, Liên minh Châu Âu quy định tiêu chí mới để xác định SSE tại Thông cáo báo chí số 2003/361/EC của Ủy ban Châu Âu, các tiêu chí này được áp dụng trong liên minh từ ngày 01/01/2005.
Theo đó, SSE sử dụng thường xuyên dưới 10 người lao động (NLĐ), có tổng giá trị tài sản hoặc doanh thu đến 2 triệu Euro. Năm 2003, Ủy ban Kinh tế của Liên minh châu Âu đưa ra tiêu chí xác định SSE của một số quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi ở Châu Âu trong cuốn Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các nước đang chuyển đổi (Small and medium-sized Enterprises in countries in transition). Cụ thể như sau: 4 - Nhóm các nước chỉ căn cứ vào quy mô lao động gồm: Albania (từ 0 đến 5 NLĐ); Armenia (đến 5 NLĐ); Romania (ít hơn 9 NLĐ); Czech và Hungary (ít hơn 10 NLĐ); Bulgaria, Liên bang Nam Tư, Macedonia (đến 10 NLĐ); Uzbekistan phân làm 2 loại: SSE trong sản xuất công nghiệp (đến 10 NLĐ), trong các lĩnh vực khác (đến 5 NLĐ); Croatia (đến 10 NLĐ và là doanh nghiệp độc lập theo quy định của EU. - Nhóm nước căn cứ vào tiêu chí lao động, tài sản và doanh thu gồm: Bosnia and Herzegovina (ít hơn 10 NLĐ, tài sản 100.000 EUR, doanh thu 200.000 EUR); Latvia (ít hơn 9 NLĐ, tài sản ít hơn 400.000 Latvian, doanh thu ít hơn 500.000 Latvian và là doanh nghiệp độc lập theo quy định của EU).
- Nhóm nước căn cứ vào tiêu chí lao động và doanh thu: Moldova (đến 9 NLĐ, doanh thu đến 3 triệu Leu Moldova); Ukraine (đến 10 NLĐ, doanh thu đến 100. Litva: SSE là một doanh nghiệp của cá nhân mà nhân viên là chủ sở hữu và các thành viên gia đình (vợ hoặc chồng, cha mẹ, cha mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi). Năm 2004, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) xuất bản cuốn sách “Chính sách cho doanh nghiệp nhỏ: Tạo môi trường thuận lợi cho việc làm”, trong đó có đề cập đến các tiêu chí xác định SSE của một số quốc gia: - Nhóm nước chỉ căn cứ vào quy mô lao động gồm: Nam Phi (0 đến 4 NLĐ), Pakistan (1 đến 9 NLĐ), Genuine (1 đến 4 NLĐ trong đó có cả người sử dụng lao động). - Nhóm nước căn cứ vào tiêu chí lao động và doanh thu: Chile (2 đến 9 NLĐ, doanh thu từ 1 đến 2.
Năm 2011, Ban Thư ký của ASEAN xuất bản cuốn “Những doanh nghiệp vừa và nhỏ xuất sắc của ASEAN”, cuốn sách cũng đưa ra định nghĩa SSE của bảy nước thành viên (ba nước thành viên Lào, Singapore, Thái Lan không có quy định về SSE). Theo đó: - Nhóm nước định nghĩa SSE chỉ căn cứ vào quy mô lao động gồm: Brunei Darussalam (1 đến 5 NLĐ), Myanmar và Việt Nam (ít hơn 10 NLĐ). 5 - Nhóm nước căn cứ vào tiêu chí lao động, tài sản và/hoặc doanh thu: Campuchia (từ 1 đến 9 NLĐ. Nếu số NLĐ cao hơn thì tài sản ít hơn 50.000 USD), Indonesia (SSE có trụ sở tại một ngành công nghiệp truyền thống, được quản lý tư nhân, có tài sản ròng không quá 50 triệu rupiah không bao gồm đất đai hoặc các tòa nhà và doanh thu hàng năm không quá 300 triệu rupiah), Philippines (từ 1 đến 9 NLĐ, doanh thu đến 3 triệu peso), Malaysia (ít hơn 5 NLĐ hoặc doanh thu không quá 250.000 Ringgit), từ năm 2014, SSE của Malaysia có số lao động < 5 hoặc doanh thu <300.
Có 3 quốc gia không có quy định về SSE là Lào, Singapore, Thái Lan.Định nghĩa SSE của Nhật Bản: Doanh nghiệp chế tạo sử dụng đến 20 lao động, doanh nghiệp bán buôn, bán lẻ và công nghiệp dịch vụ sử dụng đến 5 lao động. Hàn Quốc quy định các SSE hoạt động chế tạo, khai thác mỏ, xây dựng và giao thông vận tải sử dụng dưới 10 lao động, SSE hoạt động trong các lĩnh vực khác sử dụng dưới 5 lao động Brazil xác định SSE căn cứ vào hai tiêu chí là số lao động (từ 1 đến 10) và tiêu chí doanh thu (đến 134. Colombia xác định SSE sử dụng đến 10 lao động. Nigeria: SSE sử dụng ít hơn 10 lao động và có doanh thu ít hơn 5 triệu naira, trong đó số lượng lao động là tiêu chí ưu tiên.
Ở Nigieria, SSE được điều hành bởi một người chủ duy nhất. Tham gia quản lý hoặc hỗ trợ chủ yếu là các thành viên trong gia đình không được trả lương và một vài lao động vụ việc Chính phủ Hoa Kỳ định nghĩa “doanh nghiệp siêu nhỏ là một doanh nghiệp với 10 nhân viên trở xuống (kể cả những thành viên trong gia đình làm việc không lương) do người nghèo sở hữu và điều hành” Tại Việt Nam, căn cứ theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP phân loại doanh nghiệp thành 3 thành phần chính: Doanh nghiệp siêu nhỏ; doanh nghiệp vừa và nhỏ; doanh nghiệp lớn. Trong đó doanh nghiệp siêu nhỏ được xác định là doanh nghiệp có quy mô lao động dưới 10 người ở tất cả các lĩnh vực: Nông, lâm nghiệp và thủy sản; Công nghiệp và xây dựng; Thương mại và dịch vụ. Quy mô Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp siêu nhỏ 6 Số lao động Tổng nguồn Số lao động Tổng nguồn Số lao động Khu vực vốn vốn I.
Nông, lâm nghiệp và 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 thủy sản xuống trở xuống người đến đồng đến 100 người đến 300 200 người tỷ đồng người II. Công nghiệp và xây 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 dựng xuống trở xuống người đến đồng đến 100 người đến 300 200 người tỷ đồng người III. Thương mại và dịch 10 người trở 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 vụ xuống trở xuống người đến đồng đến 50 tỷ người đến 100 50 người đồng người Nghị định 56/2009/NĐ-CP Như vậy, trong Nghị định 56/2009/NĐ-CP, doanh nghiệp siêu nhỏ được phân biệt dựa trên tiêu chí số lao động mà chưa sử dụng các tiêu chí khác như doanh thu, nguồn vốn … Đến đầu năm 2018, Chính phủ ban hành Nghị định 39/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó bổ sung các tiêu chí xác định doanh nghiệp siêu nhỏ: - Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. - Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Từ định nghĩa của một số tổ chức quốc tế và một số quốc gia trong đó có Việt Nam có thể thấy, hầu hết tổ chức quốc tế, các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân/năm làm cơ sở quan trọng để phân loại doanh nghiệp theo quy mô để có chính sách hỗ trợ phù hợp. Điều này là hợp lý hơn so với việc lựa chọn các tiêu chí doanh thu, vốn, chi phí, tài sản. (là các chỉ tiêu có thể lượng hóa được bằng giá trị tiền tệ) vì các tiêu chí này thường xuyên chịu sự tác động bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát. 7 Trong bài khóa luận này, tác giả xin được đưa ra định nghĩa về doanh nghiệp vi mô: Doanh nghiệp vi mô là những doanh nghiệp có doanh thu trên báo cáo thuế năm gần nhất từ 3 – 20 tỷ đồng, không phân biệt về ngành nghề, số lượng lao động công ty.
Đây cũng định nghĩa mà ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam đang áp dụng đối với đối tượng khách hàng doanh nghiêp vi mô. Ngoài tên gọi là doanh nghiệp vi mô, hiện nay trên các văn bản pháp lý của chính phủ (Nghị định 56/2009/NĐ-CP) và ngân hàng Hàng Hải, các doanh nghiệp này còn được gọi là doanh nghiệp siêu nhỏ. Trong bài luận văn này, tác giả xin được sử dụng đồng thời cả tên gọi doanh nghiệp siêu nhỏ và doanh nghiệp vi mô. Đặc điểm Doanh nghiệp vi mô: Thứ nhất, Doanh nghiệp vi mô chiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Theo số liệu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trong số hơn 500.000 doanh nghiệp hiện nay, 96% là nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME).
Nhưng có đến gần 90% trong số đó là những doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ (doanh nghiệp vi mô). Thứ hai, doanh nghiệp vi mô có quy mô vốn nhỏ, gặp khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn chính thức, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.