Mở đầu bằng chủ trương đẩy 11 mạnh xuất khẩu và thử nghiệm cơ chế “Tự cân đối, tự trang trải” mà thực chất là chú trọng nâng cao giá trị sản phẩm làm ra nhằm tạo nguồn đầu tư để tái sản xuất mở rộng đã tạo nguồn động lực cho sự phát triển của ngành thủy sản. Trong phương hướng, nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế ngành và vùng, Đại hội Đảng lần thứ VII đã xác định “Khai thác tổng hợp kinh tế hiển, nuôi trồng, đánh bắt và ch ế biến thủy sản, nhất là các loại có khả năng xuất khẩu, gắn liền với chiến lược khai thác và bảo vệ vùng biển của đất nước”[23]. Với định hướng này ngành thủy sản đã cố gắng phấn đấu để vươn lên và đến năm 1993 đã được Đảng và Nhà nước chính thức xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Nhờ đó mà ngành thủy sản phát triển rất mạnh, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản tăng khá nhanh, kim ngạch xuất khẩu thủy sản 1995 gấp 3 lần năm 1990.
Chính vì vậy mà nhiệm vụ lại được đặt ra cho thời kỳ tiếp theo là phải phát triển ngành thủy sản hơn nữa. Để định hướng cho sự phát triển này nhiệm vụ và giải pháp cho chương trình phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã được Đại hội VIII xác định: “Phát triển nghê nuôi trồng thủy sản cả ở nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Bảo vệ và khôi phục rừng ngập mặn. Chuyển một sô ruộng trũng, thường bị ngập lụt hoặc bi nhiễm mặn, năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản.
Cải tạo con giống, tổ chức tốt dịch vụ hậu cần về thức ăn, phòng chống dịch bệnh, từng bước áp dụng phương thức nuôi công nghiệp. Đến năm 2000, diện tích nuôi trồng thủy sản trên 60 vạn ha. Quản lý việc đánh bắt trong từng ngư trường đê bảo tồn sự sinh sản và phát triển đàn cá. khuyến khích ngư dân tự sắm phương tiện và tổ chức khai thác tốt các nguồn lợi thủy hải sản.
Phát triển mạnh nghề đánh bắt xa bờ thông qua việc hỗ trợ cho ngư dân vay vốn và phát triển lực lượng quốc doanh. Chống ô nhiễm môi trường biển, sông ngòi, ao hồ và nghiêm cấm khai thác thủy hải sản bằng phương pháp hủy diệt. Tiếp tục điêu tra tài nguyên và sinh vật biển đ ể có k ế 12 hoạch khai thác bảo vệ. Sán lượng thủy hải sán vào năm 2000 khoảng 1,6 - 1,7 triệu tấn, trong đó số lượng muôi trồng khoảng 50 - 55 vạn tấn; Xuất khẩu thủy sản ỉ- 1,1 tỷ ƯSD"[23].
Để thực hiện nhiệm vụ trên năm 2000 ngành thủy sản triển khai đồng bộ các chương trình kinh tế - xã hội như: Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản theo quyết định số 224/1999/QĐ-TTg ngày 08/12/1999 của Thủ Tướng Chính Phủ và hướng dẫn số 222/TS-NC ngày 26/01/2000 của Bộ Thủy Sản; Chính sách khuyến khích phát triển giống thủy sản theo quyết định số 103/2000/QĐ-TTg ngày 25/8/2000 của Thủ Tướng Chính Phủ, kèm thông tư số 04/2000/TT-BTS ngày 03/11/2000 và số 06/2000/TT-BTS ngày 27/12/2000 của Bộ Thủy Sản. Bên cạnh đó có công văn hướng dẫn số 934/CV-NHNN1 của Ngân hàng Nhà nước ngày 25/09/2000 để thực hiện quyết định số 103 và công văn hướng dẫn số 3202/NHNo - 05 của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam ngày 18/12/2000 để thực hiện công văn 934[11], Trong định hướng phát triển các ngành kinh tế và các vùng, Đại hội IX đã xác định “ Phát huy lợi th ế về thủy sản, tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn, vươn lên hàng đầu trong khu vực. Phát triển mạnh ngành nuôi trồng thủy sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn, nhất là nuôi tôm, theo phương thức tiêh bộ, hiệu quả và bền vững môi trường. Tăng cường năng lực và nâng cao hiệu quả khai thác hải sản xa bờ, chuyển đổi cơ câu nghê nghiệp, Ổn định khai thác gần bờ; nâng cao năng lực bảo quản, ch ế biến sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tê và trong nước.
M ở rộng và nâng cấp các cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá. Giữ gìn môi trường biển và sông, nước, bảo đảm cho sự tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản”[23]. Trên cơ sở đó toàn ngành phấn đấu sản lượng thủy sản đến năm 2010 đạt 3 - 3,5 triệu tấn (trong đó khoảng 1,6 triệu tấn là sản phẩm nuôi trồng, 1,4 triệu tấn là sản phẩm khai thác), kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 3,5 tỷ USD. Và đến năm 2010 Việt Nam thành một cường quốc thuỷ sản của thế giới.
13 Vùng biển và ven biển là địa bàn chiến lược về kinh tế và an ninh quốc phòng có nhiều lợi thế phát triển và là cửa mở lớn của cả nước để đẩy mạnh giao lun quốc tế thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Định hướng phát triển các vùng, các khu vực đều phải phát huy lợi thế để phát triển và tạo nên thế mạnh của mình. Trong định hướng phát triển các vùng, đại hội IX đã chỉ rõ: “ Khu vực biển và hải đảo: Xây dựng chiến lược kinh tế biển và hải đảo, phát huy thê mạnh đặc thù của hơn ỉ triệu Km2 thềm lục địa. Tăng cường điều tra cơ bản làm cơ sở cho các quy hoạch kinh tế biển.
Đẩy mạnh nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản, thăm dò, khai thác và ch ế biến dầu khí; Phát triển đóng tàu thuyền và vận tải biển, mở mang du lịch; Báo vệ môi trường; Tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển. Phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi th ế của các khu vực cửa biển, hải cảng đ ể tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác. Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo đ ể tiến ra biển khơi. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên b iể rì\23].
Bộ trưởng Bộ thuỷ sản đã ban hành quyết định số 14/2004/QĐ BTS ngày 10/6/2004 về chương trình hoạt động của ngành thuỷ sản để thực hiện chủ trương trên. Trong quyết định này mục tiêu chiến lược của ngành như sau: “Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, bền vững tạo chuyển biến rõ nét về tăng trưởng, tạo tiền đề thực hiện chỉ tiêu k ế hoạch tăng trưởng đến năm 2010. Tốc độ tăng trung bình về tổng sản lượng thủy sản 6,5 - 7,5%/năm. Duy trì, ổn định sản lượng hải sản khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Tốc độ tăng vê sản lượng thủy sản nuôi trồng: 13-15%/năm. Giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng trung bình 15-18%/năm”[ 11]. Để thực hiện mục tiêu trong chương trình hoạt động, cần phải đề ra những việc cụ thể như sau: - Thực hiện chiến lược phát triển khoa học công nghệ đến 2010 bằng cách đánh giá việc thực hiện chiến lược phát triển khoa học công nghệ phục vụ sản xuất thủy sản và xác định hướng triển khai chiến lược đến 2010. Thí 14 điểm và từng bước hình thành thị trường khoa học công nghệ trong ngành thủy sản tạo đột phá trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học trong sản xuất giống thủy sản.
Đẩy mạnh nghiên cứu sản xuất thuốc, chế phẩm sinh học phục vụ nuôi trồng thủy sản, chú trọng các công nghệ nuôi trồng nhằm tạo ra các sản phẩm chủ lực phục vụ xã hội, công nghiệp khai thác cá biển và bảo quản sản phẩm sau thu hoạch. Tạo đột phá để có chuyển biến mạnh trong ứng dụng công nghệ tin học. - Xây dựng chiến lược phát triển nhân lực của ngành thủy sản. Quy hoạch đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật trong toàn ngành, xây dựng quy hoạch hệ thống các trường đào tạo trong ngành thủy sản.
Nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên. - Hoàn thiện cơ chế, phát triển thị trường thủy sản nội địa: Xây dựng chợ cá, đặc biệt là các chợ đầu mối và kho trung chuyển sản phẩm, hình thành thị trường giống thủy sản, thuốc thú y, chế phẩm sinh học, thị trường vốn đầu tư, thiết bị, ngư lưới cụ đáp ứng tốt hơn cho sự phát triển sản xuất kinh doanh thủy sản. - Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản cơ cấu lại các nhóm sản phẩm thủy sản nhằm đa dạng hóa các mặt hàng chủ yếu, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Tăng khả năng sản xuất, cung cấp nguyên liệu, thỏa mãn cho nhu cầu chế biến xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
Triển khai mạnh các biện pháp quản lý nhằm đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm. Xây dựng cơ chế huy động sự tham gia các doanh nghiệp chế biến vào quá trình sản xuất nguyên liệu thủy sản, tạo điều kiện để các hộ nuôi trồng thủy sản có cổ phần trong các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, góp phần điều tiết lợi nhuận trong quá trình nuôi trồng và chế biến thủy sản xuất khẩu. - Triển khai chiến lược khai thác hải sản xa bờ gắn với khai thác hải sản ven bờ hợp lý và bảo vệ, tái tạo phát triển nguồn lợi thủy sản. Thực hiện phân 15 tuyến, phân vùng khai thác gắn với xây dựng các lĩnh vực bảo tồn, gìn giữ đa dạng sinh học biển, đảm bảo khai thác hải sản hiệu quả bền vũng.
Phát triển nuôi trồng thủy sản, đồng thời tăng cường hoạt động quản lý đảm bảo an toàn vệ sinh và thú y thủy sản. Hướng mạnh vào phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ và nước biển, đồng thời phát triển nuôi trồng thủy sản ao hồ nhỏ, sông và hồ chứa. Phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng đa loài. Xây dựng đề án phát triển các nhóm sản phẩm nuôi trồng.
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển giống và nuôi trồng thủy sản. Phát triển nuôi trồng thủy sản hiệu quả, bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái sẽ tạo ra sự phát triển ổn định và bền vững cho ngành thủy sản. Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển của ngành thủy sản. K hái niệm tín dụng Tín dụng xuất phát từ chữ La tinh là credo (Tin tưởng, tín nhiệm).
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Đơn giản nhất, tín dụng là sự vay mượn, phức tạp hơn là tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian thu được một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu[19]. Như vậy khó có thể đưa ra một khái niệm rõ ràng về tín dụng. Song tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu mà ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này.