Chương 1 tìm hiểu và đánh giá những hạn chế của các cách tiếp cận dựa trên mô hình tập trung Client/Server, sau đó là tổng quan về mạng ngang hàng và giới thiệu một số hệ thống VoD dựa trên mạng ngang hàng. Nội dung Chương 2 tập trung mô tả hệ thống giải pháp PPVoD, phần đầu là tổng quan về hệ thống, tiếp theo đề cập đến cơ chế quản lý chỉ mục cũng như phương thức lưu đệm và tìm kiếm các phân đoạn video. Trong chương này tác giả cũng đã đề xuất một giải thuật lập lịch media streaming, phần cuối chương đề cập đến vấn đề bảo mật cho hệ thống. Chương 3 trình bày các mô phỏng thử nghiệm đánh giá hiệu năng của hệ thống PPVoD.
Chương 4 đề cập đến một mô hình ứng dụng cho IPTV. Cuối cùng, Chương 5 là kết luận và các định hướng phát triển của đề tài trong tương lai. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 – TỔNG QUAN 1. Khái quát về truyền hình theo yêu cầu Truyền hình theo yêu cầu (Video on demand / VoD) là hệ thống cho phép người dùng lựa chọn để xem nội dung video theo yêu cầu.
Đây là một công nghệ truyền hình tương tác cho phép những người xem (các thuê bao) có thể xem trực tiếp hoặc thu lại các chương trình để xem về sau. Một hệ thống VoD truyền thống, dưới góc độ người dùng có thể bao gồm một TiVi và một hộp chuyển đổi tín hiệu STB (set-top box). Bên cạnh đó, dịch vụ này còn có thể được cung cấp qua mạng Internet cho các máy tính gia đình, máy tính xách tay, các dòng điện thoại cao cấp và các thiết bị giải trí số. Người dùng có quyền lựa chọn xem video (từ những video clip về tin tức, thể thao, giải trí trên Internet cho đến các bộ phim đầy đủ có độ nét cao) từ các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) hoặc các công ty truyền hình cáp, trong khi vẫn đang ngồi ở nhà và có toàn quyền điều khiển việc xem video giống như việc sử dụng một đầu DVD thông thường, bao gồm các chức năng phát hình (play), tạm dừng (pause), tua nhanh (fast forward), tua lại (rewind), nhảy qua khung hình trước/sau (skip).
Phần lớn các dịch vụ video on-demand đều có từ hàng trăm đến hàng nghìn bộ phim, từ cũ đến mới. Ngoài ra còn có thể có các chương trình TV cho phép người dùng có thể download về để xem. Thậm chí một vài nhà cung cấp dịch vụ còn lưu toàn bộ các chương trình TV trong suốt hàng tháng để người dùng có thể xem lại trong một khoảng thời gian về sau. Để cung cấp đủ băng thông cho các dịch vụ truyền hình qua mạng, các nhà cung cấp dịch vụ phải sử dụng các đường truyền xDSL tốc độ cao hoặc các mạng truyền hình cáp để phân phối nội dung video tới người xem.
Ví dụ như công ty AT&T LightSpeed của Mỹ cũng đã sử dụng các mạng Fiber-to-the-Neighborhood (FTTN). Kiến trúc của mạng gồm một vài siêu đầu cuối (Super Head End - SHE) quốc gia và lượng lớn các tổng đài phân phối video địa phương (Video Hub Office - VHO). Các siêu đầu cuối SHE đóng vai trò là các điểm tập trung cung cấp nội dung video quảng bá và on-demand trên phạm vi quốc gia. Mỗi tổng đài tập trung VHO đảm nhận phục vụ một thư viện lớn các video theo yêu cầu và phân phối nội dung thông qua các bộ chuyển đổi truy cập địa phương (local access switch) tới các khách hàng.
Có hai kiểu hệ thống video on demand bao gồm: streaming video on demand và download video on demand. Hệ thống streaming VoD cho phép xem phim gần như trực tiếp. Trong khi đó với hệ thống download VoD bộ phim phải được tải xuống toàn bộ trước khi có thể bắt đầu xem. Nội dung của luận văn sẽ tập trung chủ yếu vào vấn đề streaming video on demand.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1-1: Mô hình vật lý của một hệ thống VoD Liên quan đến khái niệm video on-demand còn có các thuật ngữ như live streaming, progressive download cũng thường gặp trong nhiều tài liệu khác nhau. Chúng ta phân biệt các thuật ngữ đó như sau: - Real-time/live streaming: xem video trực tiếp. Có nghĩa là khi những client gửi yêu cầu xem một video (sau khi đã bắt đầu phát) thì sẽ được xem video từ thời điểm hiện tại đang phát chứ không phải là từ thời điểm bắt đầu của video. - Progressive download/video on-demand: xem video từ đầu.
Người xem có thể xem video lựa chọn vào thời gian lựa chọn thích hợp. Sự phân biệt giữa hình thức live streaming và on-demand streaming đôi khi bị lu mờ bởi một số phần mềm trên phía client có thể lưu lại một dòng video thời gian thực và phát lại khi cần thiết. Tuy nhiên đây vẫn được xem là streaming trực tiếp. Một số thuật ngữ liên quan đến khái niệm bit rate của video cần phải quan tâm bao gồm: - Tốc độ bit phát lại (Playback bit rate): Số bit đã được sử dụng mỗi giây cho việc trình diễn audio và video sau khi đã được mã hóa (nén dữ liệu).
- Tốc độ bit không đổi (Constant bit rate): Video có tốc độ bit không đổi sử dụng cùng tổng số bit mỗi giây vào mọi thời điểm phát hình. - Tốc độ bit thay đổi (Variable bit rate): Với video có tốc độ bit thay đổi, tổng số bit trong mỗi giây có thể khác nhau. Kỹ thuật này cho phép sử dụng nhiều bit mỗi giây cho các đoạn video hoặc audio phức tạp và ít hơn cho các đoạn video hoặc audio đơn giản. Dựa trên công nghệ quảng bá được sử dụng có thể phân chia truyền hình theo yêu cầu theo hai loại: - Tập trung hóa (Centralized): Có một server đơn (hoặc một nhóm server) gửi video cho tất cả các client.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Phi tập trung (Non-centralized): Không có sự phân biệt giữa client và server, các client chủ động tham gia vào việc gửi video cho các client khác. Trong cách tiếp cận dựa trên phương thức quảng bá tập trung, server chịu trách nhiệm lưu trữ, truy xuất và truyền dữ liệu. Mặt khác client chịu trách nhiệm giải mã và phát hình. Phần còn lại của ứng dụng logic có thể đặt trên client, server hoặc được chia ra cho cả hai.1-2: Mô hình quảng bá tập trung Cách tiếp cận dựa trên phương thức quảng bá phi tập trung sử dụng những giải pháp dựa trên các mạng ngang hàng (Peer-to-Peer).
Đặc điểm của các mạng ngang hàng là cho phép các peer (đồng đẳng) cộng tác với nhau mà không cần tới một thành phần trung tâm. Cũng có cách tiếp cận khác là sự kết hợp của các hệ thống kể trên, hệ thống có server nhưng vẫn sử dụng các client để làm giảm băng thông yêu cầu đối với server. Những hệ thống này được gọi là hệ thống lai ghép.1-3: Mô hình quảng bá phi tập trung 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Truyền hình theo yêu cầu dựa trên mô hình tập trung 1.
Những hạn chế của mô hình tập trung Dựa theo phương thức phân phối dữ liệu, cách tiếp cận theo mô hình tập trung có thể phân thành hai loại: đơn phát (unicast-base) và đa phát (multicast-base). Những phân tích dưới đây sẽ làm rõ hơn ý tưởng chính và hạn chế của các cách tiếp cận này. Cách tiếp cận dựa trên Unicast Trong cách tiếp cận dựa trên unicast một unicast stream được thiết lập cho mỗi client. Cụ thể là có ba cách tiếp cận sử dụng kết nối unicast cho streaming theo yêu cầu: tập trung (Centralized), ủy nhiệm (Proxy) và mạng phân phối nội dung (Content Distribution Networks - CDN).
Cách tiếp cận tập trung theo mô hình Client/Server sử dụng một hoặc nhiều server có cấu hình mạnh, băng thông rộng và bộ nhớ lưu trữ lớn để phục vụ cho các yêu cầu streaming. Cách tiếp cận này có ưu điểm là dễ triển khai và quản lý. Tuy nhiên với các ứng dụng đòi hỏi băng thông cao như VoD thì hệ thống như vậy có thể gặp khó khăn để đạt được thông lượng truyền tải mong muốn. Do những hạn chế của phương thức phân phối dữ liệu trong hệ thống mạng, bất chấp việc có sử dụng UDP, TCP hay các giao thức truyền tải nào khác thì VoD server vẫn phải truyền thông với các client một cách độc lập.
Bởi vì các client gửi những yêu cầu cho những phân đoạn khác nhau của cùng video và thậm chí ngay cả khi có nhiều client yêu cầu cùng một phân đoạn của video thì có thể lại là tại các thời điểm khác nhau của nội dung video. Điều này buộc server phải lặp đi lặp lại việc truyền tải cùng một nội dung dữ liệu giống như truyền các luồng dữ liệu độc lập cho mỗi client, khiến cho hệ thống bị hạn chế về khả năng mở rộng (scalability). Mặt khác, khi có càng nhiều người truy cập đồng thời thì chất lượng dịch vụ lại càng giảm do hạn chế về tài nguyên của server. Còn khi server bị sự cố (single point of failure) thì sẽ dẫn đến ngưng hoạt động toàn hệ thống.
Không những thế, xuất phát từ những hạn chế của cách tiếp cận dựa trên mô hình tập trung còn làm nảy sinh hai vấn đề khác đó là: chi phí cao và tải nặng trên đường backbone mạng. - Chi phí cao xuất phát từ yêu cầu về băng thông và bộ nhớ lưu trữ. Để đánh giá vấn đề chi phí, hãy xem xét ví dụ: một hệ thống để đạt được khả năng phục vụ 1000 người xem đồng thời, với chất lượng hình ảnh tương đương TV thì cần phải mã hóa video theo chuẩn MPEG-4 ở bitrate là 1.5Mbps, đòi hỏi dung lượng hệ thống phải đạt cỡ 1. Để đạt được dung lượng như vậy thì chi phí thuê bao đường truyền cho hệ thống là khá lớn.
Mặt khác, nếu trong hệ thống duy trì một thư viện bao gồm 1000 video (được mã hóa theo chuẩn MPEG-4), với độ dài chừng 2 giờ thì mỗi video cũng đã có dung lượng xấp xỉ 1. Dẫn đến dung lượng lưu trữ cần thiết để lưu toàn bộ các video là vào khoảng 1. Không những thế, để đáp ứng nhu cầu của người xem thì theo thời gian số lượng video phải đưa vào hệ thống ngày càng nhiều. Cho dù 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có sử dụng một hoặc nhiều server để giảm tải thì chi phí triển khai và duy trì hệ thống cũng rất tốn kém.
- Vấn đề tải nặng trên đường backbone mạng xuất hiện khi có số lượng lớn client truy cập vào server đồng thời, do phần lớn lưu lượng truyền tải đều phải đi qua mạng diện rộng WAN.