Nghiên cứu giải pháp kết cấu hợp lý cho thân cống vùng triều trên nền đất yếu khu vực tỉnh Bến Tre

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu giải pháp kết cấu hợp lý cho thân cống vùng triều trên nền đất yếu tại tỉnh Bến Tre, đảm bảo hiệu quả và bền vững.

Trường đại học

Đại học Thủy lợi

Chuyên ngành

Kết cấu công trình

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2014

133
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của Đề tài

Việc thiết kế kết cấu hợp lý cho công trình cống là rất quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi mà các công trình cống vùng triều trên nền đất yếu ngày càng nhiều, đặc biệt tại Bến Tre. Các tiêu chuẩn thiết kế hiện hành thường không phản ánh đầy đủ điều kiện tự nhiên, dẫn đến việc sử dụng vật liệu không hiệu quả và chi phí cao. Điều này không chỉ gây thiệt hại cho nhà đầu tư mà còn ảnh hưởng đến chất lượng công trình. Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp kết cấu hợp lý cho thân cống vùng triều trên nền đất yếu là cần thiết. Theo đó, việc áp dụng các phương pháp tính toán hiện đại sẽ giúp tối ưu hóa thiết kế, giảm thiểu chi phí và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên nước.

II. Mục đích của Đề tài

Mục tiêu chính của đề tài là đề xuất giải pháp kết cấu và xây dựng phương pháp tính toán cho thân cống vùng triều trên nền đất yếu tại tỉnh Bến Tre. Đề tài sẽ phân tích các loại hình kết cấu cống đã được áp dụng, đánh giá ưu nhược điểm và từ đó kiến nghị giải pháp phù hợp. Việc sử dụng phần mềm chuyên dụng như SAP 2000 sẽ giúp phân tích và tính toán kích thước cống một cách chính xác, từ đó đưa ra các giải pháp tối ưu về mặt kinh tế và kỹ thuật. Kết quả dự kiến sẽ cung cấp một phương pháp tính toán có thể áp dụng cho các công trình cống khác trong khu vực, góp phần nâng cao hiệu quả thiết kế và thi công.

III. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn. Các loại hình kết cấu cống hiện có sẽ được phân tích, từ đó đưa ra các giải pháp thiết kế phù hợp với điều kiện tự nhiên tại Bến Tre. Việc thu thập dữ liệu từ các công trình thực tế, cùng với sự hỗ trợ của phần mềm tính toán như SAP 2000, Excel và AutoCAD, sẽ giúp đảm bảo tính chính xác và khả thi của các giải pháp đề xuất. Phương pháp này không chỉ giúp tối ưu hóa thiết kế mà còn tạo ra các mô hình mô phỏng thực tế, từ đó đánh giá được hiệu quả của các giải pháp trong điều kiện cụ thể.

IV. Kết quả dự kiến đạt được

Kết quả của nghiên cứu sẽ là một bộ giải pháp kết cấu hợp lý cho thân cống vùng triều trên nền đất yếu tại tỉnh Bến Tre. Đề tài sẽ cung cấp các phương pháp tính toán cụ thể, giúp xác định kích thước và hình thức kết cấu tối ưu nhất. Ngoài ra, việc áp dụng các giải pháp này sẽ giúp giảm thiểu chi phí xây dựng và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên nước. Kết quả nghiên cứu không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có thể áp dụng thực tiễn cho các công trình cống khác trong khu vực, góp phần vào sự phát triển bền vững của hệ thống thủy lợi tại Việt Nam.

02/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CỐNG VÙNG TRIỀU 1. Khái quát về cống vùng triều 1. Khái niệm Cống vùng triều là một loại công trình thủy làm nhiệm vụ kiểm soát khống chế mực nước và điều tiết nước phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Cống nằm ở vùng chịu ảnh hưởng của thủy triều lên xuống theo một chu kỳ thời gian phụ thuộc biến chuyển thủy văn.

Sự thay đổi lên xuống phụ thuộc vào lực hấp dẫn từ mặt Trăng (phần chủ yếu) và từ các thiên thể khác như mặt Trời (phần nhỏ) tại một điểm bất kỳ trên bề mặt Trái Đất trong khi Trái Đất quay đã tạo nên hiện tượng nước lớn (triều lên) và nước ròng (triều xuống) vào những khoảng thời gian nhất định trong một ngày. Phân loại Có hai hình thức cống dùng phổ biến cho vùng triều là cống lộ thiên và cống ngầm 1. Cống lộ thiên (cống hở) Là một loại công trình thủy lợi hở được xây dựng để điều tiết lưu lượng và khống chế mực nước nhằm đáp ứng các yêu cầu cấp nước, phân lũ, tiêu úng, ngăn triều, giữ ngọt, ngăn mặn. Đây là hình thức cống phổ biến nhất của cống vùng triều.

Theo nhiệm vụ và mục đích sử dụng được chia thành những loại sau đây : Cống lấy nước : được xây dựng để lấy nước từ sông, kênh hoặc từ hồ chứa phục vụ các yêu cầu dùng nước; Cống điều tiết : xây dựng trên sông, kênh để dâng cao mực nước tạo điều kiện lấy nước cho các công trình phía thượng lưu; -4- Cống tiêu : dùng tháo nước, chống úng cho một vùng nhất định trên một hệ thống, bên cạnh nhiệm vụ tiêu, cống còn đảm nhận các nhiệm vụ khác; Cống phân lũ : dùng để tháo một phần lưu lượng về mùa lũ của một con sông sang hướng khác, hoặc tập trung nước phân lũ vào một vùng nhất định nhằm hạ thấp đỉnh lũ ở sông chính; Cống ngăn triều : xây dựng ở cửa sông ven biển, chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều. Ở một thời kỳ nhất định, khi thủy triều dâng, cống mở để các công trình lấy nước ngọt vào đồng (do triều đẩy dồn lên). Khi triều rút vào mùa lũ, lợi dụng chân triều thấp mở cống tháo tiêu nước từ đồng ra. Vào mùa khô cống đóng để ngăn triều giữ ngọt.

Ngoài ra cống còn có tác dụng thay đổi nước trong đồng nhằm tháo chua rửa mặn; Cống tháo cát : để tháo rửa bùn cát lắng đọng phía trước các công trình dâng và điều tiết nước. Cống ngầm Là một công trình thủy lợi thường được đặt dưới mặt đê, mặt đập dùng vào việc cấp nước, phân lũ, tiêu úng, ngăn triều, giữ ngọt, ngăn mặn. Đây cũng là một hình thức cống dùng khá phổ biến của vùng triều. Một số loại cống ngầm dùng phổ biến hiện nay: Theo vật liệu xây dựng : có các loại cống ngầm bằng sành, bằng bê tông, bê tông cốt thép và ống kim loại, ống nhựa.

Trong thực tế xây dựng sử dụng phổ biến nhất là cống bằng bê tông cốt thép và kim loại, chỉ trong trường hợp cột nước thấp mới sử dụng cống bằng sành, bằng bê tông và ống nhựa; Theo hình thức kết cấu : có các loại cống tròn, cống hộp, cống vòm; -5- Theo cách bố trí : cống ngầm đặt trực tiếp trên nền, cống ngầm đặt trong hành lang bằng bê tông cốt thép. Cách bố trí thứ nhất tương đối kinh tế nhưng kiểm tra sửa chữa khó khăn nếu khớp nối giữa hai đoạn ống làm việc không tốt để nước rò rỉ sẽ ảnh hưởng an toàn của đập. Khi tháo nước với lưu lượng rất lớn, tại các chỗ nối tiếp hoặc các kẽ nứt sẽ hình thành chân không, có thể hút hết các hạt đất ở thân đập vào cống và làm đập bị trụt lún. Vì vậy, chỉ trong trường hợp nến đá tốt mới dùng và thường đặt mốt phần hoặc toàn bộ đường ống ở trong nền; Theo hình thức lấy nước, thoát nước và ngăn nước a.

Lấy nước theo kiểu đặt van khống chế ở hạ lưu hoặc thượng lưu b. Lấy nước theo kiểu cửa kéo nghiêng Theo biện pháp thi công a. Cống thi công tại chổ b. Cống được chế tạo hoặc đúc sẵn thi công lắp ghép.

Phạm vi ứng dụng Cống vùng triều được ứng dụng rất rộng rãi, đặc biệt ở Nước ta, nơi có đường bờ biển dài và nhiều hệ thống sông ngòi thông ra biển trãi dài từ Bắc chí Nam. Tùy vào công năng sử dụng, quy hoạch xây dựng (thủy lợi, giao thông, hạ tầng kỹ thuật,…) và điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, địa chất, thủy văn,…) mà sẽ lựa chọn hình thức và kết cống cho phù hợp.4 Tình hình xây dựng cống vùng triều trên thế giới và Việt Nam 1.4 Đặc điểm chung Sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước là một vấn đề đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Đặc biệt trong khi tương lai sắp tới các hiện tượng thời tiết cực đoan có xu hướng tăng về tần suất và mạnh về cường độ, trong đó nổi lên vấn đề xâm nhập mặn, nước biển dâng sẽ gây khó khăn -6- cho sản xuất nông nghiệp, cung cấp nước sạch và làm suy thoái tài nguyên đất và nước. Các dạng thiên tai sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sinh mạng và đời sống của ngưới dân.2 Một số công trình trên Thế giới [1].

Đập chắn sóng Hollandse Ijsel – Hà Lan : Công trình được khởi công xây dựng trên sông Hollandse IJsel nối Rotterdam với biển bắc, khởi công năm 1954 và hoàn thành đưa vào sử dụng năm 1958. Vị trí xây dựng công trình trên đoạn sông rộng 250m. Đập gồm 3 trụ tạo thành 1 khoang rộng 80m và 1 âu thuyền rộng 24m dài 120m.Trên trụ là 4 tháp bố trí thiết bị đóng mở cao 45m. Hai cửa van phẳng rộng 81,2m cao 11,5m nặng hơn 635 tấn được vận chuyển ra vị trí lắp đặt bằng tàu kéo.

Công trình này có 2 cửa và đóng mở lần lượt để đảm bảo an toàn khi có sự cố. Cửa van âu thuyền nặng 60 tấn. Hình 1-1 : Đập Hollandse Ijssel barrier Các kết cấu BTCT gồm trụ ngưỡng được thi công tại chỗ trong khung vây tường thép. Nền móng của công trình được gia cố thêm bằng cọc đóng sâu vào nền công trình.

Công trình Lower – Rhine: Công trình Lower – Rhine của Hà lan được xây dựng trên sông Rhine khoảng năm 1960. Công trình bố trí 2 cửa van lưỡi trai (Visor gate) mỗi cửa rộng 54m. khi nâng cửa, chiều cao thông thuyền là 9,1m. Đây là một đập chắn nước để phát điện và phục vụ giao thông thủy.

Trên sông Rhine còn có hai công trình có kết cấu tương tự được xây dựng tại Amerongen và Hagestein. Dạng đập chắn nước này còn được xây dựng ở Nhật Bản trên sông Aji - Osaka. Mỗi cửa của công trình này rộng 57m. Công trình khánh thành vào năm 1970.

Hình 1- 2 : Công trình Lower – Rhine [3]. Đập chắn sóng bão Hartel – Hà Lan: Công trình được xây dựng trên kênh Hartel để chống nước dâng do bão, khánh thành năm 1996. Công trình gồm 2 khoang thông nước, điều tiết nước bằng của van phẳng. Cửa lớn rộng tới 98m cao 9,3m.

Cửa nhỏ rộng 49,3m. Các cửa van được nâng lên thẳng đứng bằng xilanh thủy lực gắn trên 4 tháp cao. Khi có bão các cửa được hạ xuống ở vị trí cách ngưỡng BT khoảng 0,2 m để nước vẫn qua lại được. -8- Hình 1 - 3 : Đập chắn sóng bão Hartel – Hà Lan [4].

Đập sông Thame – Anh: Hình 1 - 4 :Đập Sông Thame ( Anh) Để chống lại sóng và triều cường từ biển Bắc đổ vào sông Thames khi có bão, năm 1974 các kỹ sư người Anh đã triển khai thiết kế và thi công công trình ngăn sông Thames. Hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 1982. Đập chắn sóng sông Thames được xây dựng tại Woolwich cách thủ đô 17 km. -9- Công trình này có chiều rộng tổng cộng 520m gồm 4 khoang 61m, 6 khoang 31,5m, cửa van cao hơn 20m, cửa van được hàn kín tạo thành hộp phao nên nước có thể được cho vào khi đóng của và ra khi nâng cửa lên.

Đập chắn sóng Ems – Đức: Công trình được xây dựng trên sông Ems từ năm 1999 đến năm 2002. Công trình gồm 7 khoang thông nước. Cửa thông thuyền lớn nhất rộng 60m bố trí cửa van trụ xoay (Rotary segmentgate). Hai cửa hai bên khoang này rộng 50m cửa van viền phân (segment gate) còn lại 4 cửa rộng 63,5m.

Với tổng chiều dài gần 500m, đây là một trong những công trình lớn nhất Châu Âu. Hình 1 - 5 : Đập Ems - Đức Nước ta cũng vậy, mặc dù có nguồn tài nguyên nước vào loại trung bình và có hệ thống sông ngòi khá dày đặc nhưng hiệu quả sử dụng nước còn chưa cao bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó, một phần khá lớn lượng nước ngọt bị lãng phí do đổ tự do ra biển theo các cửa sông. Trong điều kiện khí hậu toàn cầu biến đổi bất lợi và thảm phủ rừng bị suy thoái, nguồn nước ngọt từ thượng nguồn chảy về đồng bằng ngày càng giảm, tình trạng thiếu nước ngọt đã và đang xảy ra ở các vùng châu thổ.

-10- Các tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long chịu tác đông trực tiếp của thủy triều, mặn xâm nhập sâu. Hiện tại diện tích đất nông nghiệp bị mặn xâm nhập (có nồng độ khoảng 4g/l) là rất lớn, chiều dài xâm nhập trên các sông chính nhiều nơi lên đến 40Km. Thời gian qua, các tỉnh này trong đó có Bến Tre đã và sẽ chịu những tác động bất lợi do biến đổi khí hậu gây ra. Để chuẩn bị và kịp thời đối phó với tác động bất lợi kể trên thì phải đầu tư một khối lượng lớn hệ thống công trình ngăn sông, hệ thống đê bao ven biển ở hạ lưu các sông nên cần rất nhiều tài lực, vật lực và nhân lực.

Trong đó, chiếm một tỷ trọng không nhỏ là các công trình cống làm nhiệm vụ ngăn triều, ngăn mặn, điều tiết nước, tiêu thoát nước, … 1.3 Một số công trình ở Việt Nam [1]. Cống Ba Lai (Bến Tre) Hình thức : Kiểu cống lộ thiên bằng BTCT, đóng mở bằng cửa van tự động hai chiều. - Vị trí : trên cạn, bên bờ trái sông Ba Lai. - Cao trình ngưỡng : -4,20m - Kích thước cửa : nxBxH = 10x(8x7,2m) - Chiều rộng thông nước : 84,0m - Chiều dài thân cống : 16,0m - Cao trình đỉnh trụ pin : + 3,0m - Cao độ dạ cầu : +5,50m - Cầu ô tô trên cống : H30-X60, B=7,0m - Tiêu năng hai chiều, chiều dài bể tiêu năng thượng lưu : 22,6m, hạ lưu : 17,50m.

Hố phòng xói thượng lưu có cao độ : -6,0m, phòng xói hạ lưu : -7,0m.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải pháp kết cấu hợp lý cho thân cống vùng triều trên nền đất yếu tại Bến Tre" trình bày các phương pháp thiết kế và xây dựng cống nhằm đảm bảo tính bền vững và hiệu quả trong điều kiện đất yếu và ảnh hưởng của triều cường. Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện khả năng thoát nước mà còn giảm thiểu rủi ro ngập úng, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống cho người dân địa phương.

Để mở rộng thêm kiến thức về các giải pháp kỹ thuật liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường đánh giá kết quả mô phỏng ứng dụng giải pháp tự nhiên đến chất lượng nước mặt, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về các giải pháp tự nhiên trong quản lý nước. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ xây dựng công trình thủy nghiên cứu sự hình thành vòm áp lực do nổ mìn và biện pháp chống đỡ áp dụng cho hầm dẫn nước thủy điện sông côn 2 tỉnh quảng nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp kỹ thuật trong xây dựng công trình thủy. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu giải pháp chống ngập úng cho thành phố biên hòa luận văn thạc sỹ chuyên ngành kỹ thuật hạ tầng đô thị cũng là một nguồn tài liệu quý giá để tìm hiểu về các giải pháp chống ngập trong đô thị. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến quản lý nước và xây dựng công trình trong điều kiện khó khăn.