CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CÓ KỲ HẠN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về nghiệp vụ huy động vốn của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm: HĐV là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau để hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng (Nguyễn Đăng Chính, 2007).Vai trò của huy động vốn tại Ngân hàng thương mại Thứ nhất, vai trò HĐV đứng trên góc độ NHTM: HĐV là hoạt động chủ yếu của NHTM. HĐV tốt là tiền đề thúc đẩy NHTM phát triển được các sản phẩm, dịch vụ khác.
Hoạt động này còn giúp ngân hàng gia tăng thu nhập, cải tiến cơ cấu thu nhập của NHTM. Thứ hai, vai trò HĐV đứng trên góc độ khách hàng: nghiệp vụ HĐV của ngân hàng giúp khách hàng cất trữ nguồn tiền nhàn rỗi an toàn. Khách hàng có thể lựa chọn được hình thức tiền gửi phù hợp. Khách hàng có thể tăng nhu nhập qua việc trả lãi của Ngân hàng.
Ngoài ra họ còn có thể được bảo hiểm số tiền gửi của mình. Thứ ba, Vai trò HĐV đối với nền kinh tế: nghiệp vụ HĐV có thể điều tiết lượng tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế, giúp ổn định thị trường tiền tệ, kiểm soát được lạm phát. HĐV giúp điều tiết nguồn vốn lưu thông trên thị trường để phát triển nền kinh tế, giúp phát triển thị trường tài chính. Một số hình thức huy động vốn cơ bản của Ngân hàng thương mại 1.
Huy động tiền gửi của dân cư, các tổ chức kinh tế và các tổ chức xã hội Huy động vốn của dân cư Huy động tiền gửi tiết kiệm (TGTK) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Các tầng lớp dân cư đều có những khoản thu nhập tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng, gửi vào ngân hàng nhằm mục tiêu đảm bảo an toàn và sinh lợi. Để có thể huy động được nguồn TGTK nhàn rỗi trong dân cư, ngân hàng cần đa dạng hóa các hình thức huy động, đưa ra mức lãi suất cạnh tranh hấp dẫn, mở rộng mạng lưới huy động, thủ tục gửi đơn giản và nhanh chóng,…. Hiện nay các ngân hàng đang đa dạng các hình thức huy động TGTK như: + Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn (TGTK): đây là khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác định, người gửi có thể rút vốn vào bất cứ thời điểm nào. Lãi suất ngân hàng áp dụng cho TGTK không kỳ hạn này thường thấp hơn TGTK có kỳ hạn.
Do tính ổn định thấp nên các ngân hàng chỉ sử dụng nguồn tiền gửi này ở một tỷ lệ nhất định vào hoạt động cho vay, vì thế hiệu quả kinh doanh mang lại cũng không cao. + Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi mà trong đó người gửi tiền và ngân hàng đã có sự thoả thuận về số tiền nhất định, kỳ hạn xác định, lãi suất cụ thể. Khách hàng khi sử dụng loại hình này chỉ được rút gốc và lãi khi tới hạn. Tuy nhiên để tạo tính hấp dẫn, đồng thời đảm bảo quyền lợi của khách hàng và tăng tính cạnh tranh, trong thực tế các ngân hàng vẫn cho phép khách hàng có thể rút trước hạn và hưởng lãi theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn.
Do tính chất xác định về kỳ hạn nên TGTK có kỳ hạn là một nguồn vốn có tính ổn định cao, ngân hàng có thể chủ động cho vay với kỳ hạn tương ứng hoặc hoán chuyển kỳ hạn một phần để sử dụng vào hoạt động cho vay. Chi phí trả lãi với nguồn tiền gửi này cũng cao hơn so với TGTK không kỳ hạn và tiền gửi thanh toán. Huy động tiền gửi thanh toán (TGTT): Đây là khoản tiền gửi mà người gửi tiền với mục đích an toàn và được sử dụng các dịch vụ thanh toán thuận tiện như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, lệnh chi, lệnh chuyển khoản,… Tương tự với TGTK không kỳ hạn thì loại tiền gửi này cũng không có thời hạn gửi xác định nên khách hàng có thể TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 không được trả lãi hoặc được hưởng lãi suất rất thấp, đổi lại ngân hàng cũng không hoặc thu phí rất thấp để quản lý tài khoản cho khách hàng. Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế Tiền gửi không kỳ hạn (TGKKH): Đây là khoản tiền của khách hàng tổ chức ký gửi vào ngân hàng với thời gian ngắn, họ có thể rút ra bất cứ lúc nào thông qua các công cụ thanh toán của ngân hàng.
Trong điều kiện nên kinh tế phát triển, tiền tệ ổn định, yếu tố cơ bản thu hút loại tiền gửi này thường không phải là lãi suất mà là khả năng đáp ứng các yêu cầu thanh toán một cách nhanh chóng, chính xác và thuận tiện cho khách hàng. TGKKH thường xuyên biến động nhưng ngân hàng vẫn có thể sử dụng một phần nguồn vốn này vào hoạt động kinh doanh của mình do có sự không khớp nhau giữa xuất và nhập trên mỗi tài khoản tiền gửi thanh toán của một doanh nghiệp hay giữa các tài khoản của nhiều doanh nghiệp. Tiền gửi có kỳ hạn (TGCKH): Đây là những khoản tiền gửi được ký gửi vào ngân hàng theo kỳ hạn nhất định. Mục đích chính của khoản tiền gửi này là sinh lời nên nó rất nhạy cảm với lãi suất.
Lãi suất được xác định dựa vào kỳ hạn, tình hình cung cầu vốn tại thời điểm huy động. Thông thường việc rút vốn trước hạn gửi và kỳ hạn gửi thực tế ít phát sinh nhiều do các tổ chức kinh tế thường hoạch định được kế hoạch tài chính trước khi lên kế hoạch gửi ngân hàng nên tạo ra nguồn vốn tương đối ổn định để ngân hàng có thể cho vay. Các ngân hàng áp dụng nhiều kỳ hạn với mức lãi suất khác nhau để đa dạng hóa loại tiền gửi này và thu hút khách hàng, tuy nhiên vẫn đảm bảo nguyên tắc kỳ hạn gửi càng dài thì lãi suất thông thường áp dụng càng cao. Huy động vốn từ các tổ chức xã hội Tương tự như tổ chức kinh tế thì thông thường các tổ chức xã hội cũng gửi nguồn tiền nhàn rỗi dưới hai hình thức chủ yếu là có kỳ hạn và không kỳ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Các ngân hàng cần khai thác thêm về các đối tượng là tổ chức xã hội, do các tổ chức này là cơ sở, tiền đề và là chất xúc tác để giúp ngân hàng thu hút nguồn vốn từ các tầng lớp dân cư. Phát hành giấy tờ có giá (GTCG) GTCG được phát hành từng đợt tùy theo mục đích cụ thể của ngân hàng, đồng thời phải có sự chấp thuận của NHTƯ hoặc Hội đồng chứng khoán quốc gia. Các loại GTCG ngân hàng phát hành có nhiều loại, như: Kỳ phiếu ngân hàng Kỳ phiếu ngân hàng là một công cụ nợ ngắn hạn, do ngân hàng phát hành để HĐV một cách linh hoạt đáp ứng nhu cầu vốn cho những kế hoạch kinh doanh được xác định trước của ngân hàng. Kỳ phiếu ngân hàng được phát hành thường xuyên với nhiều kỳ hạn phù hợp với nhu cầu của khách hàng và trả lãi theo hai phương thức: trả lãi sau và trả lãi trước.
Trái phiếu ngân hàng Là loại phiếu nhận nợ trung dài hạn do ngân hàng phát hành, trong đó ngân hàng cam kết trả một số tiền xác định vào một thời điểm cụ thể trong tương lai với mức lãi suất quy định cho những kỳ hạn cho trước. Trái phiếu được phát hành với quy mô lớn trong toàn hệ thống ngân hàng. Đặc trưng của trái phiếu là có sự xác định về mệnh giá, ngày đáo hạn, lãi suất công bố khi phát hành và lãi suất cao hơn so với kỳ phiếu ngân hàng và các khoản tiển gửi khác. Chứng chỉ tiền gửi (CDs) CDs là một công cụ vay nợ do ngân hàng phát hành nhằm HĐV trên thị trường với bản chất tương tự một khoản tiền gửi có kỳ hạn.
Theo đó người sở hữu CDs được hưởng các loại lãi suất định kỳ tính toán trên cơ sở 360 ngày và được hoàn trả mệnh giá khi đáo hạn. Thời hạn của CDs thường là 1-3 tháng, hoặc 6 tháng và có thể 5-7 năm, nhưng thông thường là ngắn hạn. Lãi suất CDs được tổ chức phát hành ấn định dựa trên lãi suất cạnh tranh của thị trường tiền tệ, tình hình tài chính của chủ thể phát hành và thời hạn của CDs. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Khả năng chuyển nhượng tạo nên tính hấp dẫn hơn nhiều cho CDs so với các hình thức tiền gửi có kỳ hạn khác.
Như vậy việc HĐV thông qua việc phát hành các GTCG là một hình thức rất thuận tiện, chủ động, tùy thuộc vào kế hoạch dự tính của ngân hàng. Tuy nhiên trong thực tế nguồn vốn huy động từ nhận tiền gửi vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn so với nguồn vốn từ phát hành GTCG. Đó là do chi phí phát hành GTCG cao hơn nhiều và so với chi phí cho các khoản tiền gửi cùng kỳ hạn. Huy động vốn thông qua hình thức đi vay Ngân hàng Trung ương và các Tổ chức tín dụng khác Nguồn vốn đi vay thường chiếm một bộ phận nhỏ trong kết cấu tổng nguồn vốn của NHTM nhưng nó là nguồn vốn cần thiết đáp ứng nhu cầu vốn thiếu hụt vốn tạm thời nhằm đảm bảo thanh khoản và hoạt động kinh doanh của ngân hàng được duy trì ổn định.
Vốn đi vay gồm: Vay NHTƯ NHTƯ cấp tín dụng cho các NHTM chủ yếu dưới các hình thức: tái cấp vốn mà chủ yếu là dưới hình thức tái chiết khấu các GTCG và cho vay thế chấp hay ứng trước. Vay từ các TCTD khác Trong quá trình hoạt động do những nhu cầu phát sinh mà các NHTM có thể thiếu hụt hoặc dư thừa tạm thời tiền dự trữ tại NHTM. Hành vi vay lẫn nhau giữa các ngân hàng là nhằm điều hòa nhu cầu vốn khả dụng trong ngắn hạn và đảm bảo nguồn vốn lưu chuyển liên tục trong hệ thống ngân hàng. Chi phí cho loại vốn này cao, ngân hàng chỉ sử dụng khi có nhu cầu cần thiết đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của chính mình.
Ngoài ra các ngân hàng còn có thể huy động từ các nguồn vốn khác như từ các chủ sở hữu, các cổ đông, phát hành các hợp đồng mua lại, vay nước ngoài,. Tuy nhiên hình thức huy động thông qua vốn đi vay TCTD khác vẫn mang lại cho ngân hàng sự chủ động cao và khả năng đáp ứng rất nhanh chóng và thuận tiện. Nhưng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.