Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu Chương 5. Kết luận và hàm ý quản trị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Ở Chương này tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan, gồm các nội dung: các khái niệm liên quan đến rủi ro hoạt động, Basel II, lý thuyết về hệ thống QLRRHĐ, mô hình và nghiên cứu thực nghiệm. Các khái niệm liên quan 2.
Rủi ro hoạt động Khái niệm về rủi ro hoạt động được phát triển và hoàn thiện trong một thời gian dài, bởi các nhà nghiên cứu lớn trên thế giới. Trước đây, RRHĐ được định nghĩa là những rủi ro dẫn đến các tổn thất mà nguyên nhân từ việc thiếu hiệu quả trong quá trình hoạt động của một tổ chức bao gồm sức khỏe, nghề nghiệp, môi trường, chất lượng (Cooke, 2004; Raz&Hilson, 2005). Theo Forza (2002), rủi ro hoạt động liên quan đến quá trình thiết lập Quy trình, không phải đơn thuần là quản lý các sự vụ trong quá trình hoạt động. Khi đi sâu vào nghiên cứu hàng loạt các sự kiện xảy ra tổn thất tại các tổ chức nói chung và Ngân hàng nói riêng, đơn cử như vụ sụp đổ của Ngân hàng Barings, Ủy ban Basel (2004) đã đưa ra định nghĩa “RRHĐ là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc có sai sót, do yếu tố con người, do các lỗi, sự cố của hệ thống hoặc do các yếu tố bên ngoài làm tổn thất về tài chính, tác động tiêu cực phi tài chính đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (bao gồm cả rủi ro pháp lý)”.
Rủi ro hoạt động không bao gồm rủi ro danh tiếng và rủi ro chiến lược. Hiện nay, NHNN Việt Nam cũng đã sử dụng định nghĩa này trong các văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam như Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 về việc quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Thông tư 13/2018/TT-NHNN, ngày 18/05/2018 quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo định nghĩa trên thì phạm vi của RRHĐ là rất rộng, có thể xảy ra ở tất cả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 các mảng nghiệp vụ và tất cả các bộ phận trong ngân hàng. Vì thế, nó thường là nguyên nhân ban đầu gây ra những rủi ro lớn và hiện nay RRHĐ là trọng tâm cần phải quản lý của nội bộ ngân hàng nói riêng và của cả hệ thống ngân hàng nói chung.
Vì thế, để phù hợp với thông lệ quốc tế và Việt Nam, tác giả sẽ sử dụng cách tiếp cận định nghĩa của Ủy ban Basel về RRHĐ trong nghiên cứu này. Basel II Để quản lý các loại rủi ro trong hoạt động của ngân hàng, từ năm 1997, Ủy ban Basel đã bắt tay vào nghiên cứu đưa ra các tiêu chuẩn quản lý, giám sát các loại rủi ro và hướng dẫn cách tính vốn dự phòng cho các rủi ro của ngân hàng ở các nước thành viên G10, qua các lần sửa đổi, bổ sung tính đến nay, Ủy ban Basel đã ban hành 4 Hiệp ước Basel, từ Basel I đến Basel IV. Hiệp ước Basel tuy không bắt buộc phải áp dụng tại Việt Nam, nhưng thực tế cho thấy Hiệp ước này là kim chỉ nam quan trọng giúp quản lý rủi ro và giám sát hiệu quả các hoạt động của ngân hàng. Vì thế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã căn cứ vào Hiệp ước Basel II để ban hành Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/20016, và Thông tư 13/2018/TT-NHNN ngày 18/05/2018 hướng dẫn các ngân hàng tại Việt Nam quản lý rủi ro và tính vốn dự phòng theo các tiêu chuẩn Basel II.
Basel II có mục tiêu nâng cao chất lượng và duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế; Thiết lập thị trường tài chính hướng đến sự bình đẳng cho các ngân hàng; Quy định các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong quản lý rủi ro… Ủy ban Basel đã đề xuất 3 trụ cột chính trong Basel II: Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc (yêu cầu mức vốn tối thiểu); tỷ lệ vốn bắt buộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I. Tuy nhiên, rủi ro được tính toán theo 3 yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường. + Rủi ro tín dụng: được tính toán theo 3 phương pháp (i) Phương pháp chuẩn hóa (SA – Standardized Approach): sử dụng kết quả xếp hạng của các tổ chức đánh giá tín dụng độc lập bên ngoài để xác định hệ số rủi ro cho các nhóm tài sản khác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nhau; (ii) Phương pháp xếp hạng nội bộ – cơ bản (FIRB: Internal Rating based - Foundation): sử dụng dữ liệu nội bộ để xây dựng mô hình xác suất vỡ nợ (PD model) và các tham số LGD (tỷ lệ tổn thất), EAD (giá trị chịu rủi ro tại thời điểm vỡ nợ) do Ngân hàng Nhà nước cung cấp để tính toán vốn; (iii) Phương pháp xếp hạng nội bộ – nâng cao (FIRB: Internal Rating based - Advanced): ngân hàng tự xây dựng các mô hình PD, LGD, EAD để tính vốn cho rủi ro tín dụng. + Rủi ro hoạt động: với 3 phương pháp tính toán (i) Phương pháp chỉ số cơ bản (Basic Indicator Approach – BIA) tính vốn trên cơ sở thu nhập ròng trung bình 3 năm, không phân biệt mảng hoạt động kinh doanh; (ii) Phương pháp chuẩn hóa (Standardized Approach – STA) tính vốn trên cơ sở phân chia các hoạt động của ngân hàng thành 8 mảng có hệ số rủi ro khác nhau; (iii) Phương pháp đo lường tiên tiến (Advanced Measurement Approach – AMA) yêu cầu sử dụng dữ liệu tổn thất nội bộ để xây dựng mô hình tính toán vốn.
+ Rủi ro thị trường: với 2 phương pháp tính toán (i) Phương pháp đo lường chuẩn hóa (Standardized Measurement Approach) tính vốn trên cơ sở gắn các hệ số rủi ro nhất định cho các mảng kinh doanh khác nhau; (ii) Phương pháp mô hình nội bộ (Internal Model Approach) sử dụng dữ liệu lịch sử để tính toán VaR (giá trị chịu rủi ro) làm cơ sở tính vốn. Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng (giám sát của cơ quan quản lý), Basel II cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I. Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại. Trụ cột thứ III (Quy tắc thị trường): thiết lập khung yêu cầu về công bố thông tin, cho phép các thành viên trên thị trường (bao gồm các nhà đầu tư, chuyên gia phân tích, khách hàng, tổ chức xếp hạng tín nhiệm, các ngân hàng khác) có thể đánh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 giá khả năng chịu đựng của ngân hàng trước các rủi ro tiềm tàng, khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với người gửi tiền và các nhà đầu tư.1: Tóm tắt nội dung của Basel II Nguồn: Hiệp ước Basel II Việc với áp dụng và thực thi theo Basel II, khung quản trị rủi ro của các ngân hàng tại các quốc gia sẽ tiến dần và phù hợp với các tiêu chuẩn của ngân hàng quốc tế, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh và khả năng chống đỡ trước những biến động của thị trường tài chính.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mối quan hệ giữa các yếu tố gây ra RRHĐ, SKRRHĐ và tác động của chúng đến Ngân hàng thương mại Hình 2.2: Mối quan hệ giữa các yếu tố gây ra RRHĐ, SKRRHĐ và tác động của chúng Nguồn: Tổng hợp của tác giả a. Yếu tố gây ra RRHĐ Bao gồm 4 yếu tố: con người, quy trình, hệ thống và các yếu tố bên ngoài. Cụ thể như sau: - Con người với các yếu tố như gian lận nội bộ; vi phạm luật lao động; các hoạt động không được phép; mất hoặc thiếu nhân sự chủ chốt; đào tạo không đủ; thiếu sự giám sát,.
- Quy trình với các yếu tố như quy trình hoạt động không phù hợp, không đầy đủ; Sản phẩm dịch vụ không phù hợp,. - Hệ thống: sai sót trong quá trình xây dựng và triển khai áp dụng các hệ thống cũng như lỗi của chính các hệ thống; hạ tầng công nghệ không đáp ứng yêu cầu; lỗi bảo mật,. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 - Sự kiện bên ngoài: tội phạm từ bên ngoài như trộm cắp, cướp ngân hàng; rủi ro thuê ngoài; thảm họa tự nhiên; rủi ro từ chính trị,. Các nhóm sự kiện rủi ro hoạt động Được nhận dạng qua 7 nhóm SKRRHĐ chính và được phân chia chi tiết theo 3 cấp độ.
Cụ thể bao gồm: - Gian lận nội bộ: hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, vi phạm của một cá nhân trong ngân hàng; - Gian lận bên ngoài: hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản do đối tượng bên ngoài gây nên; - Chính sách về lao động, an toàn nơi làm việc không phù hợp với quy định của pháp luật về lao động, điều kiện làm việc và hợp đồng lao động; - Vô ý vi phạm quy trình, quy định; - Hư hỏng, mất mát tài sản, công cụ, thiết bị do các sự kiện bất khả kháng, tác động của con người và các sự kiện khác; - Hệ thống công nghệ, thông tin gặp sự cố gây gián đoạn kinh doanh; - Quy trình, kiểm soát và quản lý giao dịch có bất cập; c. Tác động của RRHĐ đến ngân hàng SKRRHĐ có thể gây ra tổn thất về tài chính hoặc phi tài chính và ảnh hưởng trực tiếp đến các vấn đề như Trách nhiệm pháp lý; Phạt liên quan đến sự tuân thủ; Mất mát hoặc hư hại tài sản; Bồi thường; Ghi nhận sai lệch số liệu; Uy tín/danh tiếng; Chiến lược kinh doanh. Vì vậy, ngân hàng cần nhận dạng, đo lường, theo dõi và kiểm soát RRHĐ hiệu quả phù hợp với mục tiêu, định hướng của ngân hàng trong từng thời kỳ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3: Ảnh hƣởng của SKRRHĐ tới hoạt động của NHTM Nguồn: Hiệp ước Basel II 2.