phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu 4 chƣơng 3 Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về hạn chế và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cƣ́u Chƣơng 3: Thƣc̣ trang̣ haṇ chếvàxƣ̉ lýnơ ̣xấu t ại NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây Chƣơng 4: Giải pháp hạn tăng cƣờng chếvàxƣ̉ lýnơ ̣xấu taịNHN 0&PTNT chi nhánh HàTây 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng chủ yếu trong thu nhập của các ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động này luôn tiềm ẩn rủi ro cao, đặc biệt là các nƣớc có nền kinh tế mới nổi nhƣ Việt Nam bởi hệ thống thông tin thiếu minh bạch và không đầy đủ, trình độ quản trị rủi ro còn nhiều hạn chế, tính chuyên nghiệp của cán bộ ngân hàng chƣa cao…Do đó, yêu cầu xây dựng một mô hình để hạn chế và xử lý nợ xấu là một đòi hỏi bức thiết để đảm bảo đƣợc hạn chế rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng, hƣớng đến các chuẩn mực quốc tế quản trị rủi ro nói chung, nợ xấu nói riêng và phù hợp với môi trƣờng hội nhập. Volker, cựu Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) cho rằng: “Nếu ngân hàng không có những khoản nợ xấu thì đó không phải là hoạt động kinh doanh”.
Điều đó cho thấy nợ xấu là một thực tế hiển nhiên ở bất cứ ngân hàng nào, kể cả các ngân hàng hàng đầu trên thế giới bởi có những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của con ngƣời. Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản của các ngân hàng có năng lực quản trị nợ xấu là khả năng khống chế nợ xấu ở một tỷ lệ có thể chấp nhận đƣợc nhờ xây dựng một mô hình quản lý hiệu quả, phù hợp với môi trƣờng hoạt động để hạn chế đƣợc những rủi ro nợ xấu mang tính chủ quan, xuất phát từ yếu tố con ngƣời và những rủi ro khác có thể kiểm soát đƣợc. Vào tháng 11/2004, hội nghị thuờng niên của Hiệp hội Ngân Hàng Châu Á (viết tắt ABA) đƣợc nhóm họp, trong đại hội này đã đƣa ra những vấn đề thảo luận trong đó đã bàn đến việc ứng dụng Hiệp ƣớc mới về vốn (Basel II) nhằm mục đích hạn chế đƣợc các rủi ro trong hoạt động của các NHTM trong hiệp hội. Theo ý kiến phát biểu của chủ tịch ABA - Dong Soo Choi “Tất cả các ngân hàng trong khu vực cần nâng cấp hơn nữa để đáp ứng đƣợc những quy định của Basel II”.
Về khái niệm hoạt hạn chế và xử lý nợ xấu, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (2005) cho rằng: “Quản lý Nợ xấu là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được mục 5 tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững; trong đó tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế sự phát sinh nợ xấu, đi kèm với các biện pháp xử lý những khoản nợ xấu đã phát sinh, từ đó nhằm tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM” Vấn đề nợ xấu ngày càng thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm trong vài thập kỷ gần đây. Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng hậu quả trực tiếp của tỷ lệ nợ xấu tăng cao trong hệ thống ngân hàng là ngân hàng phá sản. Rất nhiều nghiên cứu về nguyên nhân phá sản của ngân hàng chỉ ra rằng chất lƣợng tài sản là một yếu tố dự đoán vỡ nợ rất quan trọng về mặt thống kê (Dermirgue-Kunt 1989, Barr và Siems 1994) và các tổ chức ngân hàng trƣớc khi phá sản luôn có mức nợ xấu rất cao. Nhiều lập luận lại cho rằng trì trệ kinh tế là một trong những nguyên nhân chính của nợ xấu ngân hàng.
Mỗi khoản nợ xấu tại một khu vực tài chính đƣợc xem là hình ảnh phản chiếu của một doanh nghiệp yếu kém và không lợi nhuận. Từ quan điểm này cho thấy việc giảm thiểu nợ xấu là điều kiện cần thiết để cải thiện trạng thái kinh tế. Nếu nợ xấu vẫn tồn tại và tiếp tục gia tăng, các nguồn lực sẽ mắc kẹt trong những khu vực không lợi nhuận, kìm hãm sự phát triển kinh tế và làm giảm hiệu quả kinh tế. Nợ xấu còn liên quan tới tính hiệu quả của khu vực ngân hàng.
Nhiều nhà kinh tế đã nhận thấy rằng các ngân hàng phá sản có xu hƣớng nằm xa so với biên hiệu quả nhất (Berger và Humphrey (1992), Barr và Siems (1994), DeYoung và Whalen (1994), Wheelock và Wilson (1994)), do những ngân hàng này không tối ƣu hóa các quyết định về danh mục đầu tƣ của mình bằng cách cho vay ít hơn so với khối lƣợng đƣợc yêu cầu. Hơn thế, có nhiều bằng chứng rằng giữa các ngân hàng không phá sản, tồn tại mối quan hệ ngƣợc chiều giữa nợ xấu và hiệu quả hoạt động (Kwan và Eisenbeis (1994), Hughes và Moon (1995), Resti (1995)). Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: nợ xấu càng tăng thì hiệu quả hoạt động của ngân hàng càng giảm. Ngoài ra, trên thế giới có khá nhiều các nghiên cứu luận bàn về nguyên nhân gây ra nợ xấu ngân hàng.
Đối với các nguyên nhân gây ra nợ xấu và sự ảnh hƣởng của nợ xấu đến hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng, phải kể đến nghiên cứu 6 của Keeton, William và Morris (1987). Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã thực hiện nghiên cứu trên các NHTM bị thua lỗ tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1979-1985 đồng thời sử dụng tỷ lệ nợ xấu làm thƣớc đo chính cho việc đo lƣờng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng này. Mô hình kiểm định đã chỉ ra rằng các điều kiện kinh tế riêng biệt địa phƣơng cùng với sự yếu kém trong hoạt động quản lý ngân hàng là các nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro tín. Nghiên cứu này cũng cho thấy rằng các NHTM sẵn sàng cho vay những món mạo hiểm thƣờng có rủi ro vỡ nợ cao hơn so với các ngân hàng khác.
Theo sách “Bad debts” của Peter Temple (20/8/2013): Trong một môi trƣờng kinh tế tăng trƣởng lành mạnh, tiềm năng sản xuất và tiêu dùng của xã hội là lớn thì sản xuất kinh doanh có nhiều cơ hội để phát triển và ngƣợc lại, khi nền kinh tế có dấu hiệu lạm phát kéo theo đồng tiền nội địa bị mất giá, dẫn đến kinh doanh trong nƣớc bị trở ngại và khó khăn khiến cho khả năng thu hồi vốn trở nên phức tạp. Bên cạnh đó, trong tình hình hội nhập kinh tế quốc tế các nƣớc trên thế giới có mối quan hệ mật thiết với nhau về kinh tế, cho nên sự bất ổn về kinh tế của nƣớc này sẽ ảnh huởng đến nền kinh tế của nƣớc khác. Do đó, các cuộc khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính trên thế giới xảy ra dây chuyền từ một hay một vài nƣớc sau đó lan sang nhiều nuớc, đây cũng là nguyên nhân làm phá sản các NHTM. Aqel (2001) chỉ ra rằng việc cấp các khoản tín dụng bao gồm một vài bƣớc đó là: Đảm bảo độ an toàn của các tài liệu pháp lý và đảm bảo các điều kiện trong hợp đồng với khác hàng, yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ thông tin, các biện pháp buộc khách hàng phải trả đúng hạn và cung cấp các khoản bảo đảm và xác nhận.
Đánh giá cao yếu tố cam kết trả nợ vốn vay của khách hàng. Trong các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, rủi ro từ phía khách hàng là nguyên nhân chủ yếu. Trƣờng hợp là khách hàng cá nhân: thiếu năng lực tài chính, năng lực pháp lý, sử dụng vốn sai mục đích và đặc biệt là ý muốn chủ quan của ngƣời đi vay cố tình không trả nợ. Hoặc trƣờng hợp khách hàng là doanh nghiệp: Năng lực chuyên môn và uy tín lãnh đạo của doanh nghiệp bị giảm thấp, thiếu quan tâm đến vấn đề điều hành sản xuất kinh doanh, hay trong quá trình hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp trong nƣớc không có đủ năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp nƣớc ngoài…Tất cả đều dẫn đến khả năng phát sinh và mất kiểm soát nợ xấu của ngân hàng.
7 Tổ chức Tài chính và Ngân hàng Ấn Độ đã đƣa ra một công trình nghiên cứu khoa học mang tên “Information Technology, Data Communication and Electronic Banking”: Ngoài giới thiệu và phân tích chi tiết về ngân hàng điện tử, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một ngân hàng có trang thiết bị, phƣơng tiện làm việc tiên tiến sẽ phục vụ kịp thời yêu cầu về tiền gửi, cho vay và các hoạt động dịch vụ khác, nâng cao uy tín đối với khách hàng. Đồng thời, giúp cho các cấp quản lý của ngân hàng có những thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng để có những biện pháp điều chỉnh phù hợp. Công nghệ thông tin cho phép ngân hàng xử lý kịp thời và chính xác thông tin về tài chính, quan hệ tín dụng, đảm bảo tiền vay, tình hình hoạt động, thông tin pháp lý…của khách hàng. Nhờ công nghệ mà bộ phận quản lý có thể đƣa ra những quyết định cần thiết về cho vay, quản lý, theo dõi và áp dụng các chế tài tín dụng phù hợp.
Thông tin càng đầy đủ, kịp thời, chính xác và hoàn thiện thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng càng lớn, chất lƣợng tín dụng càng đƣợc nâng cao. Khoa học công nghệ càng phát triển nhanh thì trang thiết bị, phƣơng tiện càng phải đƣợc quan tâm và không ngừng đổi mới để đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý tín dụng. Nghiên cứu của Thaher và Alamrat (2006) chỉ ra rằng trƣớc khi cấp các khoản tín dụng các ngân hàng cần phân tích tín dụng nhằm giảm thiểu rủi ro, nâng cao hiệu quả của tín dụng. Nhằm đạt đƣợc mục đích tăng trƣởng nóng, các ngân hàng sẵn sang nới lỏng các quy định về hồ sơ cho vay, áp dụng quy trình tín dụng lỏng lẻo, không phân chia tỷ trọng cho vay theo từng ngành, theo thời hạn hoặc theo đối tƣợng khách hàng…Một ngân hàng có tốc độ phát triển càng lớn thì ngày càng phải hoàn thiện hệ thống để đảm bảo an toàn, hiệu quả tránh những rủi ro luôn thƣờng trực.
Một số nghiên cứu tiếp theo sau nghiên cứu của Keeton, William và Morris (1987) cũng lý giải tƣơng tự về các yếu tố gây ra nợ xấu đối với các khoản cho vay tại Mỹ. Ví dụ nghiên cứu của Sinkey, Joseph.