Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại các ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam” Chương 2: Tổng quan về rủi ro tín dụng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 3: Thực trạng rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Chương 4: Mô hình nghiên cứu, kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại các ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hạn chế RRTD tại các NHTMCP Việt Nam thông qua việc đo lường các yếu tố tác động đến RRTD tại các NH TMCP Việt Nam. Nghiên cứu này sẽ có một số đóng góp như sau: Thứ nhất, kết quả nghiên cứu đúc kết cung cấp thêm một bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ chặt chẽ giữa RRTD và các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế và các yếu tố thuộc đặc điểm của ngân hàng tại các NHTMCP Việt Nam theo số liệu được cập nhật. Thứ hai, thông qua kết quả thu được từ mô hình nghiên cứu, tác giả phân tích mối tương quan và mức độ tác động của các yếu tố đến RRTD, đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hạn chế RRTD tại các NHTMCP Việt Nam.
Điều này giúp cho các nhà quản lý ngân hành điều hành hoạt động và thiết lập các chính sách quản lý RRTD hiệu quả nhằm hạn chế RRTD, giảm thiểu nợ xấu. Thứ ba, nghiên cứu này hoàn thành sẽ giúp tác giả hoàn thiện khả năng nghiên cứu khoa học cùng với việc nâng cao kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu RRTD tại các NHTMCP. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG Trong chương 2, tác giả sẽ trình bày một số vấn đề cơ bản về RRTD như các khái niệm về tín dụng và RRTD, các chỉ tiêu đánh giá RRTD, nguyên nhân dẫn đến RRTD, các yếu tố tác động đến RRTD. Bên cạnh đó đó, luận văn còn tiếp cận với một số nghiên cứu thực nghiệm ở trong và ngoài nước trước đây về các vấn đề liên quan đến RRTD và kinh nghiệm hạn chế RRTD tại các NHTM trên thế giới và rút ra bài học cho Việt Nam.
Tín dụng và rủi ro tín dụng 2. Khái niệm tín dụng, tín dụng ngân hàng thƣơng mại Tín dụng là một phạm trù kinh tế, ra đời và tồn tại nhiều hình thái kinh tế xã hội. Từ “tín dụng” có nguồn gốc từ tiếng Lating là “credtium” có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm. Dựa trên sự tin tưởng, tín nhiệm đó sẽ thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc vật chất trong một thời gian nhất định.
Hay nói cách khách, tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn đó và tiền lãi vay sẽ được hoàn trả lại vào một ngày xác định trong tương lai. Giá trị (hàng hóa – tiền tệ) Người cho vay Người đi vay (1) Giá trị (hàng hóa – tiền tệ) + lãi Người cho vay Người đi vay (2) Niềm tin mà người cho vay đặt ở người đi vay đó là sự hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi, niềm tin đó được trọn vẹn khi quá trình vận động (2) được thực hiện đúng cam kết. Tóm lại: Tín dụng là quan hệ vay mượn giữa các chủ thể trong nền kinh tế, trong đó chủ thể này chuyển nhượng cho chủ thể khác quyền sử dụng một lượng giá trị (có thể dưới hình thức hàng hóa hoặc tiền tệ) với những điều kiện và trong một thời gian nhất định mà hai bên đã thỏa thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Tín dụng xuất hiện từ thời kỳ cổ đại và đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, trong đó, tín dụng NHTM là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng, nó là mối quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các chủ thể trong nền kinh tế.
NHTM là chủ thể vừa đóng vai trò là người đi vay (huy động vốn dưới dạng tiền gửi của khách hàng) vừa đóng vai trò người cho vay (chủ nợ của khách hàng). NHTM là cầu nối giữa những người có vốn dư thừa và những người có nhu cầu về vốn. NHTM huy động và tập trung các nguồn tiền nhỏ lẻ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay đối với nền kinh tế; mặt khác trên cơ sở vốn huy động được, NHTM cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của các chủ thể kinh tế, góp phần điều tiết vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu vận động liên tục thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội. Trên phương diện NHTM là người cho vay (chủ thể cấp tín dụng), tín dụng NHTM là quan hệ vay mượn giữa NHTM với các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó, NHTM chuyển nhượng cho khách hàng (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) quyền sử dụng một lượng giá trị từ nguồn vốn huy động và vốn chủ sở hữu (dưới hình thức bằng tiền hoặc tài sản) trong một thời gian nhất định đã được thỏa thuận dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn và lãi vay.
Trong luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu cấp tín dụng NHTM trên phương diện NHTM là chủ thể cho vay. Vậy, tín dụng ngân hàng thương mại là quan hệ tín dụng giữa một bên là NHTM , còn bên kia là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó NHTM là người cấp tín dụng cho khách hàng dưới hình thức bằng tiền hoặc tài sản trong một thời gian đã thỏa thuận, với cam kết hoàn trả nợ đúng hạn. Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của NHTM. Đây là loại rủi ro dễ nhận thấy nhất liên quan đến hoạt động kinh doanh của NHTM.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về RRTD như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Theo Hennie van Greuning – Sonja Brajovic Bratanovic, 1999, Analyzing banking Risk, the World Bank: RRTD được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng, tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không được chi trả. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng.Fithch: RRTD là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. RRTD là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện một nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho dù đó là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn (Trần Huy Hoàng (2010), Quản trị ngân hàng, NXB Lao động Xã hội). RRTD theo nghĩa cơ bản nhất là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng.
Từ các định nghĩa chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản về RRTD như sau: - RRTD là loại rủi ro phát sinh trong suốt quá trình cấp tín dụng của ngân hàng đối với khách hàng. - Khả năng xảy ra tổn thất khi người đi vay không trả được nợ, hoặc không trả nợ đầy đủ, không đúng hạn cho ngân hàng. - RRTD sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. - RRTD là loại rủi ro lớn nhất, quan trọng nhất trong hoạt động ngân hàng, là loại rủi ro chủ yếu của hoạt động ngân hàng, là loại rủi ro tồn tại khách quan gắn liền với hoạt động ngân hàng.
Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng Mức độ RRTD được đo lường bằng rất nhiều các chỉ tiêu, tác giả xin phép trình bày một số chỉ tiêu thường được dùng để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng như: tỷ lệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 nợ xấu, tăng trưởng tín dụng, mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, hệ số rủi ro tín dụng, … 2. Tỷ lệ nợ xấu Theo Baboucek and Jancar (2005), nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của một ngân hàng là có một lượng lớn các khoản vay không được hoàn trả. Hiện nay, nợ xấu “non-performing loan” (NPL) được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ của khách hàng. Trong các lý thuyết cũng như các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam trước đây, có nhiều cách định nghĩa về nợ xấu.
Theo một số tiêu chí của NHTW Liên minh Châu Âu, thì “Nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại không chỉ có những khoản vay quá hạn thông thường không có khả năng thu hồi theo hợp đồng mà còn có các khoản nợ chưa quá hạn nhưng tiềm ẩn các rủi ro dẫn đến việc có thể không thanh toán đầy đủ gốc và lãi cho ngân hàng. Theo quan điểm của Phòng Thống kê Liên Hợp Quốc, thì “Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu là khi quá hạn trả lãi và, hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc trả chậm theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng sẽ được thanh toán đầy đủ.” Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế - IAS, thì “Nợ xấu là các khoản nợ quá hạn trên 90 ngày và, hoặc khả năng trả nợ đáng ngờ.” Về cơ bản, một khoản được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2005), nợ xấu được hiểu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), 4 (nợ nghi ngờ), 5 (nợ có khả năng mất vốn).