CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CÓ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng có tài sản bảo đảm: 1. Tài sản bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại: 1. Khái niệm về tài sản bảo đảm : Tại Việt Nam theo nghị định 163/2006/NĐ-CP được ban hành ngày 29/12/2006 có hiệu lực ngày 27/01/2007: “Tài sản bảo đảm (TSBĐ) là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm”.
Phân loại tài sản bảo đảm : Tài sản bảo đảm tiền vay hữu hình và tài sản bảo đảm tiền vay vô hình. Tài sản bảo đảm tiền vay là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai. Tài sản bảo đảm tiền vay là bất động sản hoặc động sản: - Bất động sản: TSBĐ là bất động sản (BĐS) được hiểu là tài sản mang tính cố định, không thể di dời và gắn liền với đất như: nhà cửa, đất đai, công trình xây dựng, ao hồ nuôi trồng thủy hải sản, vườn cây công nghiệp, nông nghiệp… Tùy theo pháp luật mỗi nước sẽ quy định cụ thể danh mục TSBĐ là BĐS, tại Việt Nam TSBĐ là BĐS bao gồm: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và các tài sản khác (Tùy theo quy định của pháp luật trong một số trường hợp có tài sản giá trị lớn và người đi vay vẫn khai thác, sử dụng tài sản đó do tính năng công dụng của tài sản đó sẽ hợp lý hơn ngân hàng thương mại quản lý như: tàu bay, tàu biển, máy móc thiết bị. hoặc là các tài sản do pháp luật quy định).
- Động sản: TSBĐ là động sản được hiểu là những tài sản có thể di dời, vận chuyển từ nơi này sang nơi khác. TSBĐ là động sản bao gồm: Máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải; hàng hóa; và các tài sản khác (bao gồm: tiền gửi bằng VND hoặc bằng ngoại tệ; các chứng từ có giá; quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền phát sinh từ TSBĐ; tài sản khác mà pháp luật không nghiêm cấm). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Điều kiện để trở thành tài sản bảo đảm: Phải là một tài sản: Điều kiện này xem qua có thể đơn giản, tuy nhiên nó là điều kiện đầu tiên tối quan trọng để xác định một TSBĐ tiền vay.
Ở mỗi nước quy định về phạm vi của các loại tài sản khác nhau, cũng vì thế mà những tài sản có thể đem làm TSBĐ là khác nhau. Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 163 bộ luật Dân sự năm 2005 thì: “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản”. Tài sản được phép giao dịch: Tài sản được phép giao dịch là tài sản mà tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm (GDBĐ) pháp luật không cấm mua, bán, tặng, cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp và các giao dịch khác. TSBĐ tiền vay phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm (đối với tài sản hình thành ở nước ngoài, quyền tài sản, quyền đối với phần góp vốn, quyền khai thác tài nguyên); hoặc xác định được quyền sở hữu của bên bảo đảm (đối với tài sản hình thành trong tương lai (bao gồm cả tài sản hình thành từ vốn vay của ngân hàng cho vay) là tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết GDBĐ hoặc là tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết GDBĐ thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật.
Tài sản bảo đảm không có tranh chấp: Theo thông tư số 07/2003/TT-NHNN ngày 19/05/2003 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực hiện một số quy định về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng: “tài sản không có tranh chấp, tức là tài sản không có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng, quản lý của khách hàng vay, bên bảo lãnh tại thời điểm ký kết HĐBĐ. Trong văn bản lập riêng hoặc hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, khách hàng vay, bên bảo lãnh phải cam kết với tổ chức tín dụng về việc tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh không có tranh chấp và phải chịu trách nhiệm về cam kết của mình”. Phải mua bảo hiểm vật chất/tài sản đối với những tài sản mà pháp luật quy định phải mua bảo hiểm. Khi quyết định nhận TSBĐ, tổ chức tín dụng có trách nhiệm kiểm tra điều kiện của TSBĐ, khách hàng vay, bên bảo lãnh và chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của TSBĐ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các biện pháp bảo đảm tín dụng bằng tài sản: Bảo đảm tín dụng được hiểu theo hai phương diện: Thứ nhất: bảo đảm tín dụng là quy định của pháp luật cho phép các chủ thể trong quan hệ tín dụng đặt ra biện pháp để bảo đảm cho một nghĩa vụ chính được thực hiện, đó là nghĩa vụ phải hoàn trả vốn và lãi đúng hạn của khách hàng, đồng thời xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan. Thứ hai: bảo đảm tín dụng là thỏa thuận giữa các bên nhằm thiết lập các biện pháp mang tính dự phòng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, đồng thời là cơ sở ngăn ngừa những hậu quả xấu do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào hợp đồng tín dụng. Đây là biện pháp tạo cơ sở kinh tế và pháp lý cho ngân hàng để thu hồi những khoản nợ đã cấp tín dụng cho khách hàng.
Bảo đảm tiền vay là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay”. Bảo đảm tín dụng bằng tài sản là việc bên được cấp tín dụng dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình hoặc tài sản của bên thứ ba để bảo đảm với bên cấp tín dụng về khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ của mình. Theo Bộ luật Dân sự 2005 và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp. Trong các biện pháp trên, ngân hàng chủ yếu chỉ sử dụng các biện pháp bảo đảm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh và ký quỹ.
Trong đó, Tài sản ký quỹ theo quy định tại Điều 361 Bộ luật Dân sự 2005 được định nghĩa như sau: “Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặc giấy tờ có giá khác vào tài khoản phong tỏa tại một ngân hàng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự”. Như vậy, các tài sản để ký quỹ, về bản chất, đều là tiền hoặc các giấy tờ có giá trị như tiền, nếu gửi “tiền” vào một tài khoản phong tỏa của ngân hàng để đảm bảo cho một hợp đồng “vay tiền” khác thì có lẽ không hợp với logic, vì nếu khách hàng đã có tiền thì không có lý gì mang tiền đó đi ký cược để đảm bảo cho một hợp đồng vay tiền TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 khác và phải chịu thêm một khoản lãi. Do vậy, trên thực tế, khách hàng sẽ không lựa chọn biện pháp bảo đảm trên trong hợp đồng tín dụng. Vì vậy hình thức bảo đảm bằng ký quỹ chỉ sử dụng trong các biện pháp cấp tín dụng là phát hành L/C và bảo lãnh.
Tỉ lệ ký quỹ cũng không nhiều, chỉ khoảng 5% đến 30% giá trị của L/C hoặc bảo lãnh (tùy theo chính sách của từng chi nhánh và tùy từng ngân hàng). Phần giá trị còn lại sẽ được bảo đảm bằng các hình thức khác như: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, hay tín chấp. Tuy đã hết hiệu lực nhưng theo Nghị định số 178/1999 NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng thì các biện pháp bảo đảm tín dụng bằng tài sản bao gồm: “Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay; bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba; bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay”. Theo Điều 4 của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP thì tài sản hình thành trong tương lai có thể làm tài sản bảo đảm.
Theo quan điểm của người viết tài sản hình thành trong tương lai (bao gồm cả tài sản hình thành từ vốn vay) chỉ là loại tài sản bảo đảm (theo phân loại tài sản bảo đảm là tài sản hiện hữu hoặc tài sản hình thành trong tương lai) chứ không phải là một biện pháp bảo đảm tín dụng. Vì vậy, trong bài viết này người viết sẽ tập trung trình bày các biện pháp bảo đảm tín dụng bằng tài sản gồm: Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay; bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Cầm cố tài sản của khách hàng vay: Cầm cố tài sản là việc bên có nghĩa vụ, bên thứ ba (gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên có quyền nắm giữ (gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Trong quan hệ tín dụng: cầm cố là việc người xin cấp tín dụng, hoặc bên thứ ba chuyển giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho ngân hàng cấp tín dụng nắm giữ để bảo đảm cho dư nợ tín dụng.
Khi đến hạn khách hàng không thực hiện được các nghĩa vụ trả nợ (bao gồm cả nợ gốc, lãi, lãi phạt) cho tổ chức tín dụng thì tổ chức tín dụng đó sẽ phát mãi tài sản cầm cố hoặc tiếp nhận tài sản cầm cố để thu hồi nợ. Tại Việt Nam theo quy định về cầm cố tài sản tại Bộ luật dân sự từ điều 326 đến điều 341 như sau: “Cầm cố tài sản là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Hình thức cầm cố tài sản: việc cầm cố tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Việc cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên cầm cố chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố.
Trong trương hợp cầm cố nhiều tài sản để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ dân sự thì mỗi tài sản được xác định bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.