Chương 1: Lý Thuyết về rủi ro lãi suất trong hoạt động của Ngân Hàng Thương Mại. Chương 2: Thực trạng rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh Tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Việt Nam. Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Việt Nam. 5 CHƢƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về lãi suất 1.1 Khái niệm lãi suất Trong nền kinh tế thị trƣờng, lãi suất là một trong những biến số kinh tế vĩ mô đƣợc quan tâm và theo dõi chặt chẽ.
Để có thể hiểu rõ về lãi suất, đã có rất nhiều quan điểm đƣợc đƣa ra. Trong quá trình nghiên cứu bản chất của Chủ nghĩa tƣ bản, Mác đƣa ra kết luận rằng lãi suất cũng là phần giá trị thặng dƣ đƣợc tạo ra do kết quả bóc lột lao động làm thuê và bị bọn tƣ bản - chủ ngân hàng chiếm đoạt. Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ của Keynes lại cho rằng lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thƣởng cho sở thích chi tiêu tƣ bản. Lãi suất do đó còn đƣợc gọi là sự trả công cho sự chia li với của cải, tiền tệ.Mishkin – Trƣờng Đại học Columbia định nghĩa “Lãi suất là chi phí để vay hoặc giá phải trả để thuê vốn thường biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm của 100 đôla thuê mỗi năm” 1 Cho dù lãi suất đƣợc hiểu theo khái niệm nào thì tóm lƣợc lại có thể hiểu rằng lãi suất là chi phí bỏ ra cho việc vay tiền, là giá cả của quyền đƣợc sử dụng tiền trong một khoảng thời gian nhất định mà ngƣời sử dụng phải trả cho ngƣời sở hữu nó.2 Phân loại lãi suất Lãi suất cũng đƣợc chia thành nhiều loại khác nhau tƣơng ứng với mục đích và điều kiện sử dụng: Dựa theo tính chất khoản vay 1 The Economics of Money, Banking and Financial Markets 3 rd Edition của Frederic S.Mishkin – Trường Đại học Columbia - do các dịch giả Nguyễn Quang Cư và PTS Nguyễn Đức Dy biên dịch (2001) 6 Lãi suất cơ bản: đƣợc áp dụng chung, làm cơ sở để ấn định các mức lãi suất phát sinh cho các dịch vụ tín dụng khác của ngân hàng.
Lãi suất tiền gửi tiết kiệm ngân hàng: lãi suất sinh ra mà ngân hàng phải trả cho khách hàng sử dụng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm vào ngân hàng. Lãi suất cho vay ngân hàng (lãi suất tín dụng): ngƣời vay tiền phải trả cho ngân hàng khi vay. Đƣợc chia thành nhiều mức lãi dựa theo hình thức vay là vay kinh doanh, trả góp, vay qua thẻ tín dụng, vay ngắn hạn… Lãi suất chiết khấu ngân hàng: áp dụng khi một cá nhân xin vay dƣới dạng chiết khấu thƣơng phiếu hoặc các giấy tờ cá giá trị. Đƣợc tính với tỷ lệ phần trăm theo mệnh giá thƣơng phiếu, khấu trừ ngay từ ban đầu khi nhận tiền vay.
Lãi suất tái chiết khấu: đƣợc ngân hàng nhà nƣớc áp dụng đối với các ngân hàng thƣơng mại khi cho vay tái chiết khấu dƣới dạng thƣơng phiếu và giấy tờ có giá trị ngắn hạn chƣa đến hạn thanh toán. Lãi suất liên ngân hàng: áp dụng khi cho vay trên thị trƣờng liên ngân hàng, giữa các ngân hàng với nhau qua quan hệ cung cầu vốn. Lãi suất liên ngân hàng đƣợc quy định bởi Ngân hàng nhà nƣớc, phụ thuộc vào sự phát triển của thị trƣờng và tỷ trọng sử dụng vốn. Dựa theo giá trị thực Lãi suất danh nghĩa: đƣợc tính theo giá trị danh nghĩa, chƣa bao gồm chỉ số tác động của lạm phát và công bố trên hợp đồng tín dụng.
Lãi suất thực tế: đƣợc điều chỉnh từ lãi suất danh nghĩa, và những tác động của lạm phát thời điểm đó. Theo đó: Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực + Tỷ lệ lạm phát. Dựa theo tính linh hoạt của lãi suất Lãi suất cố định: Cố định trƣớc và trong thời gian vay, có thể biết trƣớc để ngƣời vay tiền có thể quyết định vay hay không. Tuy vậy lãi suất cố định lại 7 hạn chế khi không đƣợc thay đổi trong thời gian mặc cho những biến động của lãi suất thị trƣờng.
Lãi suất thả nổi: Ngƣợc lại với lãi suất cố định, khi có thể thay đổi tùy theo lãi suất thị trƣờng trong thời hạn vay tín dụng. Nhƣợc điểm là có thể gặp rủi ro biến động lãi suất tăng khi đi vay và lãi suất giảm khi gửi tiền. Dựa theo loại tiền cho vay Lãi suất nội tệ: lãi suất cho vay và đi vay đồng nội tệ. Lãi suất ngoại tệ: lãi suất cho vay và đi vay đồng ngoại tệ.
Dựa theo nguồn tín dụng trong nước hay quốc tế Lãi suất quốc gia (lãi suất trong nƣớc): tiền đề cho mọi hình thức cho vay tín dụng trong nƣớc. Lãi suất quốc tế: áp dụng với các hợp đồng tín dụng quốc tế.3 Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế 1.1 Là công cụ để khuyến khích tiết kiệm và đầu tư Với việc tạo thu nhập cho ngƣời tiết kiệm, lãi suất trở thành một nhân tố cơ bản điều tiết tiêu dùng và tiết kiệm. Lãi suất cao khuyến khích ngƣời ta giảm tiêu dùng hiện tại, tiết kiệm nhiều hơn để có khoản tiêu dùng cao hơn trong tƣơng lai và ngƣợc lại. Các khoản tiết kiệm đƣợc thu hút triệt để qua các kênh tài chính trực tiếp và gián tiếp để tạo nên quỹ cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.2 Là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô Một sự gia tăng trong lãi suất sẽ làm giảm khả năng có đƣợc những thu nhập khá lớn để bù đắp đƣợc số lãi phải trả, và do đó số đầu tƣ chắc chắn sẽ giảm.
Những lãi suất cao hơn sẽ làm cho một số ngƣời tiêu dùng chờ đợi chứ không mua ngay, và số tiêu dùng dự định sẽ giảm xuống. Tổng cầu bao gồm cả các thành phần nhƣ cầu đầu tƣ của doanh nghiệp và cầu tiêu dùng của cá nhân, của hộ gia đình sẽ thay đổi 8 theo. Vì sự biến động lãi suất có tác động đến đầu tƣ, dến tiêu dùng nên nó có tác động gián tiếp đến các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô: Lãi suất thấp sẽ khuyến khích đầu tƣ, khuyến khích tiêu dùng, từ đó tăng tổng cầu làm cho sản lƣợng tăng, giá cả tăng, thất nghiệp giảm, nội tệ có xu hƣớng giảm so với ngoại tệ. Lãi suất cao sẽ hạn chế đầu tƣ, hạn chế tiêu dùng, từ đó làm giảm tổng cầu, giảm sản lƣợng, giá cả giảm, thất nghiệp tăng, nội tệ có xu hƣớng tăng giá so với ngoại tệ.
Vì có khả năng tác động đến các biến số kinh tế vĩ mô nên lãi suất đƣợc Chính phủ các nƣớc sử dụng làm một công cụ có hiệu quả để điều tiết nền kinh tế quốc gia.3 Là công cụ phân phối vốn và kích thích sử dụng vốn có hiệu quả. Đối với những dự án có mức độ rủi ro nhƣ nhau, dự án nào có lãi suất lớn hơn thƣờng thu hút đƣợc vốn nhanh hơn, nhiều hơn. Còn những dự án nào chứa định nhiều rủi ro thì phải trả lãi suất cao mới có khả năng thu hút đƣợc vốn. Nhƣ vậy, bằng cách đƣa các mức lãi suất khác nhau có thể tạo đƣợc sự phân bổ các luồng vốn theo mục đích mong muốn.
Trong quan hệ vay vốn, ngƣời đi vay không chỉ phải hoàn trả gốc khi đến hạn mà còn phải trả lãi vay. Bằng việc buộc phải trả lãi đã kích thích các ngƣời đi vay phải sử dụng vốn có hiệu quả, vốn phải có tác dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo thu nhập để bù đắp chi phí, có lợi nhuận, tạo cơ sở cho việc trả lãi.4 Là công cụ đo lường tình trạng của nền kinh tế. Trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế, lãi suất thƣờng có xu hƣơng tăng do cung cầu quỹ cho vay đều tăng lên, trong đó tốc độ tăng của cầu quỹ cho vay lớn hơn tốc độ tăng của cung quỹ cho vay. Ngƣợc lại, trong giai đoạn suy thoái của nền kinh tế, lãi suất thƣờng có xu hƣớng giảm xuống.5 Là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia 9 Ngân hàng nhà nƣớc sử dụng công cụ này dƣới các hình thức ấn định trực tiếp lãi suất kinh doanh cho các ngân hàng hoặc quy định khung lãi suất tiền gửi, lãi suất tiền vay hoặc trần lãi suất tiền vay, qua đó khống chế lãi suất cho vay của các ngân hàng theo hƣớng thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ.
Trong điều kiện thị trƣờng tài chính phát triển, NHNN sử dụng công cụ lãi suất gián tiếp nhƣ lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay cầm cố để tác động gián tiếp tới lãi suất thị trƣờng. Lãi suất thị trƣờng thay đổi sẽ tác động tới các biến số kinh tế vĩ mô.2 Rủi ro và rủi ro lãi suất 1.1 Khái quát về rủi ro 1.1 Khái niệm Có nhiều cách hiểu rủi ro khác nhau, có nhiều định nghĩa về rủi ro của các nhà kinh tế và các nhà kinh doanh. Thật khó có thể đƣa ra một định nghĩa về rủi ro chuẩn xác cho mọi môi trƣờng kinh doanh cũng nhƣ mọi giai đoạn phát triển của kinh tế xã hội. Chính vì vậy có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về rủi ro, nhƣng cách tiếp cận phổ biến nhất khi xem rủi ro nhƣ là khả năng xuất hiện các khoản thiệt hại tài chính.
Thuật ngữ rủi ro đƣợc sử dụng với ý nghĩa nhƣ là sự không chắc chắn để mô tả sự biến động tỷ suất sinh lời của một tài sản nào đó. Trong kinh doanh ngân hàng, rủi ro là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến những tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thƣc tế so với dự kiến. Tại Khoản 7 Điều 3 Thông tƣ 08/2017/TT- NHNN định nghĩa : “Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất làm giảm vốn tự có, thu nhập dẫn đến làm giảm tỷ lệ an toàn vốn hoặc hạn chế khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng Trong Thông tƣ 08/2017/TT- NHNN ban hành ngày 01/08/2017, rủi ro đƣợc phân loại và định nghĩa một cách cụ thể.
10 Rủi ro tín dụng: là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài.