CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. KHÁI QUÁT ĐÔ LA HÓA TRONG NỀN KINH TẾ 1. Khái niệm đô la hóa Thông thường, mỗi quốc gia đều có đồng tiền riêng của mình, thực hiện hầu như đầy đủ các chức năng của tiền tệ (thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, thanh toán, cất trữ) trừ chức năng tiền tệ thế giới mà không phải đồng tiền nào cũng làm được. Do điều kiện chính trị- kinh tế- xã hội nên đô la Mỹ (USD) một loại ngoại tệ mạnh, có phạm vi giao dịch rộng nhất thế giới, dần dần được sử dụng song hành với đồng nội tệ của quốc gia.
Đến một mức nào đó được gọi là tình trạng đô la hóa nền kinh tế. Vậy đô la hóa là gì? Dựa vào đâu để nói nền kinh tế bị đô la hóa? Theo một số chuyên gia của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), đô la hóa (dollarization) là tình trạng dân chúng nắm giữ một tỷ lệ có ý nghĩa trong cơ cấu tài sản của họ dưới hình thức ngoại tệ. Nói một cách khác, trong một nền kinh tế, khi ngoại tệ được sử dụng rộng rãi thay thế cho đồng nội tệ trong toàn bộ hoặc một số chức năng của tiền tệ thì ta nói nền kinh tế bị đô la hóa. Sở dĩ gọi là “đô la hóa” thay cho “ngoại tệ hóa” là do từ trước tới nay đồng Đô la Mỹ luôn chiếm vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế thế giới.
Đo lường và phân loại đô la hóa 1. Đo lường đô la hóa Tình trạng đô la hóa thường được đo lường thông qua mức độ thay thế các chức năng tiền tệ của đồng nội tệ bằng đồng ngoại tệ như: o Tỷ lệ tiền gửi bằng ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán (FCD/M2) o Tỷ lệ cho vay bằng ngoại tệ trên tổng dư nợ cho vay Tuy nhiên, người ta thường sử dụng tỷ lệ FCD/M2 làm tiêu chí 3 chung để đo lường cũng như đánh giá mức độ đô la hóa của một nền kinh tế bởi vì chỉ tiêu này thể hiện rõ ràng về mức độ thay thế trong chức năng thanh toán cũng như chức năng dự trữ giá trị của đồng nội tệ bằng đồng ngoại tệ. Theo tiêu chí của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra, một nền kinh tế được coi là có tình trạng đô la hóa cao khi mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm từ 30% trở lên trong tổng phương tiện thanh toán; bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi bằng ngoại tệ. Các nước có tỷ lệ FCD/M2 từ 15 – 30% được coi là mức độ đô la hóa trung bình và nếu tỷ lệ FCD/M2 nhỏ hơn 15% thì được xếp vào các quốc gia có mức độ đô la hóa thấp.
Theo báo cáo IMF thì Việt Nam được xếp vào nhóm các nước có mức độ đô la hóa trung bình. Phân loại đô la hóa Căn cứ vào hình thức đô la hóa mà đô la hóa được phân ra làm ba loại: đô la hóa không chính thức (Unofficial Dollarization), đô la hóa bán chính thức (Semiofficial Dollarization) và đô la hóa chính thức (Official Dollarization). Đô la hóa không chính thức là trường hợp đồng đô la được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó chính thức thừa nhận. Ở những nước có nền kinh tế bị đô la hóa không chính thức, phần lớn người dân đã quen với việc sử dụng đồng đô la nhưng Chính phủ vẫn cấm niêm yết giá hàng hóa bằng đô la, cấm dùng đô la đối với hầu hết các giao dịch trong nước.
Đô la hóa không chính thức có thể bao gồm các loại sau: Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trong túi Đô la hóa không chính thức được chia làm ba giai đoạn: 4 Giai đoạn đầu, các nhà kinh tế gọi là giai đoạn “thay thế tài sản”. Trong giai đoạn này, người dân giữ trái phiếu, ngoại tệ và các khoản tiền gửi ở nước ngoài như một phương tiện cất trữ nhằm tránh sự mất giá của tài sản do tác động của lạm phát trong nước. Giai đoạn thứ hai được các nhà kinh tế gọi là giai đoạn “thay thế tiền tệ”. Trong giai đoạn này, người dân giữ một khối lượng lớn các trái phiếu ngoại tệ và tiền gửi ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng trong nước (nếu được phép).
Ngoại tệ vừa thực hiện chức năng là phương tiện thanh toán vừa thực hiện chức năng phương tiện cất trữ. Tiền lương, thuế hay những chi tiêu hàng ngày được thanh toán bằng đồng nội tệ. Nhưng với những tài sản có giá trị lớn như ô tô, đất đai, nhà cửa, … thường được trả bằng ngoại tệ. Trong giai đoạn cuối cùng, giá cả hàng hóa được tính bằng nội tệ nhưng mọi người đều liên tưởng đến ngoại tệ thông qua tỷ giá hối đoái.
Đô la hóa bán chính thức hay còn gọi là đô la hóa từng phần là tình trạng đô la được sử dụng như một đơn vị kế toán, phương tiện trao đổi, dự trữ giá trị và phương tiện thanh toán trong khi đồng nội tệ vẫn tồn tại và lưu thông. Đồng đô la có chức năng như một đồng tiền hợp pháp thứ hai của nền kinh tế. Các nước ở tình trạng này vẫn duy trì một Ngân hàng Trung ương để thực hiện chính sách tiền tệ của họ. Đô la hóa chính thức (hay còn gọi là đô la hóa hoàn toàn) xảy ra khi đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành.
Nghĩa là đồng ngoại tệ không chỉ được sử dụng hợp pháp trong các hợp đồng giữa các bên tư nhân, mà còn hợp pháp trong các khoản thanh toán của Chính phủ. Nếu đồng nội tệ còn tồn tại thì nó chỉ có vai trò thứ yếu và thường chỉ là những đồng tiền xu hay các đồng tiền mệnh giá nhỏ. Thông thường các nước chỉ áp dụng đô la hóa chính thức sau khi đã thất bại trong việc thực thi các chính sách, chương trình ổn định kinh tế. Lợi ích chủ yếu của đô la hóa chính thức là loại trừ rủi ro của việc phá giá tiền tệ.
5 Đô la hóa chính thức không có nghĩa là quốc gia đó chỉ có một hoặc hai đồng ngoại tệ được lưu hành hợp pháp. Tuy nhiên, các nước đô la hóa chính thức thường chỉ chọn một đồng ngoại tệ làm đồng tiền hợp pháp của nước mình. Theo nghiên cứu của Cục dự trữ Liên bang Mỹ, hiện tại người nước ngoài nắm giữ từ 55 – 70% tổng số Đô la Mỹ đang lưu hành trên thế giới. Theo đánh giá của IMF, Việt Nam là nước có tình trạng “đô la hóa không chính thức”.
NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA Trước hết, ta cần nhìn nhận một cách tổng quát và từ nhiều khía cạnh khác nhau thì thấy đô la hóa bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân nhưng có thể nói rằng nguyên nhân sâu xa nhất dẫn đến tình trạng đô la hóa nền kinh tế có tỷ lệ lạm phát cao, giá trị đồng nội tệ liên tục giảm làm mất lòng tin của người dân vào đồng nội tệ. Từ đó người dân có xu hướng chuyển sang những ngoại tệ ổn định, có tính chuyển đổi cao để tiện cho việc giao dịch, cất giữ và tránh rủi ro khi đồng nội tệ bị mất giữ. Đô la hóa là hiện tượng phổ biến xảy ra ở nhiều nước, đặc biệt là ở các quốc gia chậm phát triển thì tỷ lệ đô la hóa có xu hướng rất cao. Tại các quốc gia này, tỷ lệ lạm phát thường cao cũng như các chính sách được điều hành chưa thực sự hiệu quả dẫn đến tỷ giá bấp bênh, giá trị đồng nội tệ suy giảm thì người dân phải tìm các công cụ dự trữ giá trị khác, trong đó có các đồng ngoại tệ có uy tín mà điển hình là đồng Đô la Mỹ.
Song song với chức năng làm phương tiện cất giữ giá trị, dần dần đồng ngoại tệ sẽ cạnh tranh với đồng nội tệ trong chức năng làm phương tiện thanh toán và chức năng làm thước đo giá trị. Như vậy, tình trạng đô la hóa có thể biểu hiện ở cả ba chức năng thuộc tính của tiền tệ, đó là: Chức năng làm phương tiện thước đo giá trị Chức năng làm phương tiện thanh toán Chức năng làm phương tiện cất giữ giá trị 6 Thứ hai, hiện tượng đô la hóa bắt nguồn từ cơ chế tiền tệ thế giới hiện đại, trong đó tiền tệ của một số quốc gia phát triển, đặc biệt là đồng Đô la Mỹ, được sử dụng trong giao lưu quốc tế làm vai trò của “tiền tệ thế giới”. Nói cách khác, Đô la Mỹ là một đồng tiền mạnh, ổn định và có thể được tự do chuyển đổi và nằm trong giỏ tiền tệ quốc tế của IMF, thực hiện vai trò tiền tệ thế giới trong các giao dịch xuất – nhập khẩu, đầu tư và thương mại quốc tế. Ngoài đồng Đô la Mỹ, còn có một số đồng tiền của các quốc gia khác cũng nằm trong giỏ tiền tệ quốc tế của IMF như: đồng Euro (EUR), đồng bảng Anh (GBP), đồng yên Nhật (JPY) và mới nhất là đồng Nhân dân tệ (CNY).
Nhưng vị thế của những đồng tiền này trong giao lưu quốc tế chưa thực sự lớn; chỉ có Đô la Mỹ là chiếm tỷ trọng cao nhất (khoảng 70% kim ngạch giao dịch thương mại thế giới). Trong quan hệ đối ngoại, xuất – nhập khẩu nhất thiết đòi hỏi mỗi nước phải có một cơ chế quản lý ngoại hối để kiểm soát các nguồn thu ngoại tệ. Khi xây dựng và thực hiện cơ chế quản lý ngoại hối còn chưa hoàn thiện và còn nhiều bất cập thì xu thế tất yếu sẽ xảy ra tình trạng đô la hóa. Thứ ba, các quốc gia có nền kinh tế mạnh và phát triển đặc biệt là Mỹ luôn tìm cách để tăng cường và áp đặt sức mạnh kinh tế- chính trị lên toàn thế giới và nâng cao hơn nữa vai trò, vị trí của đồng tiền nước mình trong hệ thống kinh tế - tiền tệ thế giới.
Do đó ảnh hưởng của đô la Mỹ đối với nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới nói chung và với Việt Nam nói riêng là điều không thể tránh khỏi.