Chương 1, tác giả đã nêu ra được tính cấp thiết của đề tài về vấn đề nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra hướng tiếp cận đối với các vấn đề liên quan đến nợ xấu như phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như kết cấu dự kiến của bài luận văn. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm nợ xấu Ở bất kỳ một quốc gia nào, hệ thống Ngân hàng thương mại luôn đóng vai trò quan trọng, là huyết mạch của nền kinh tế, là hơi thở trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, là yếu tố không thể thiếu để tập trung nguồn lực vốn cho phát triển đất nước. Với hoạt động tín dụng và các dịch vụ đa dạng, ngân hàng đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu vốn của khách hàng, góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước.
Tuy nhiên hoạt động này luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, có thể gây tổn thất rất lớn, dẫn đến mất khả năng thanh toán hay phá sản của ngân hàng, nguyên nhân chính là từ các khoản nợ khó thu hồi hay còn gọi là nợ xấu. Khái niệm nợ xấu của ngân hàng ra đời ở châu Âu từ rất sớm, vào khoảng những năm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Đây là khoảng thời gian phát triển rực rỡ của hệ thống các ngân hàng thương mại truyền thống ở châu Âu hay còn gọi là các Ngân hàng trung gian với chức năng chính của mình là làm trung gian tín dụng và trung gian thanh toán. Theo thời gian, khái niệm nợ xấu được hoàn thiện cùng với sự phát triển của ngành ngân hàng trên toàn thế giới và được sử dụng rộng rãi như một khái niệm học thuật cơ bản, thậm chí được đưa vào từ điển Cambridge với tên gọi “bad debt”.
Một số khái niệm về nợ xấu nợ xấu phổ biến: Theo Edward W. Reed (1984), đã đề cập đến nợ xấu theo cách hiểu như sau: Nợ xấu chính là các khoản tiền mà ngân hàng cho khách hàng vay nhưng khi đến hạn thu hồi nợ lại không thể đòi được do yếu tố chủ quan từ chính phía khách hàng như doanh nghiệp, tổ chức vay tín dụng làm ăn thua lỗ, phá sản dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán khoản nợ đã vay của ngân hàng khi đến kỳ hạn. Theo AEG (2014), “Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi suất chưa trả từ 90 ngày trở lên đã 9 được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã thanh toán dưới 90 ngày nhưng có những lý do để nghi ngờ rằng các khoản thanh toán sẽ được thực hiện đầy đủ”. Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank) thì nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản.
Theo Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), trong hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (IFRS) 2, IMF định nghĩa nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho đến thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế. Theo Ủy ban basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS), nợ xấu là “khoản nợ đã quá hạn và ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi”. Theo quan điểm của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), thì nợ xấu được định nghĩa qua hai yếu tố: khoản vay không có khả năng được thu hồi, và mặc dù được thu hồi nhưng giá trị thu hồi là không đầy đủ.
Từ các khái niệm trên, ta có thể thấy nợ xấu nhìn chung là các khoản tín dụng đã được cấp cho khách hàng nhưng khó thu hồi hoặc không thu hồi được 10 theo như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng ban đầu giữa bên cấp tín dụng và bên nhận tín dụng.2 Phân loại nợ xấu Có nhiều cách phân loại nợ xấu như phân loại theo tài sản đảm bảo, phân loại theo nguyên tắc hoạch toán kế toán, phân loại theo thời hạn nợ… Cụ thể như sau: Căn cứ vào tài sản đảm bảo, nợ xấu của ngân hàng có thể chia thành các nhóm như sau: - Nợ xấu có tài sản đảm bảo, gồm có: Nợ tồn đọng ngân hàng đã thu giữ tài sản dưới hình thức gán, xiết nợ; Nợ tồn đọng ngân hàng chưa thu giữ tài sản như nợ có tài sản liên quan đến vụ án chờ xét xử, nợ có tài sản đảm bảo đã quá hạn trên 365 ngày. - Nợ xấu không có tài sản đảm bảo và không có đối tượng để thu, gồm có: Nợ xóa do thiên tai chưa có nguồn và chưa có hạch toán nội bảng; nợ khoanh đối với những doanh nghiệp đã giải thể, phá sản; nợ khoanh đối với doanh nghiệp thuộc các vụ án; nợ khoanh do thiên tai của hộ sản xuất… - Nợ xấu không có tài sản đảm bảo nhưng con nợ vẫn còn tồn tại, đang hoạt động, gồm có: Nợ khoanh doanh nghiệp khó thu hồi; nợ tín dụng chính sách còn có khả năng thu hồi; nợ quá hạn trên 360 ngày. Phân loại nợ xấu theo nguyên tắc hạch toán kế toán, nợ xấu được phân chia thành 2 loại là nợ xấu nội bảng và nợ xấu ngoại bảng: - Nợ xấu nội bảng: là những khoản nợ xấu vẫn đang được theo dõi trong nội bảng cân đối kế toán của TCTD. Nợ xấu này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của ngân hàng do các TCTD phải trích lập dự phòng rủi ro đối với các khoản nợ này theo tỷ lệ do NHNN quy định từng thời kỳ.
- Nợ xấu ngoại bảng: là những khoản nợ xấu đã được sử dụng quỹ DPRR để xử lý được theo dõi ngoại bảng để tiếp tục áp dụng các biện pháp thu hồi. Việc thu 11 hồi được các khoản nợ này sẽ làm tăng lợi nhuận bất thường của các TCTD. Theo quy định tại Điều 10 Thông tư 02/2013/TT-NHNN, được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 5, 6, 7, 8, 9 ,10, 11 Điều 1 Thông tư 09/2014/TT- NHNN, những khoản cho vay khách hàng sẽ được phân chia thành 5 nhóm dựa trên mức độ rủi ro: - Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn - Nhóm 2: Nợ cần chú ý - Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn - Nhóm 4: Nợ nghi ngờ - Nhóm 5: Nợ có khả năng bị mất vốn Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và gốc trên 3 tháng trở lên tính từ ngày bắt đầu đến hạn trả đó là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5, cụ thể: Nợ xấu Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn Nhóm nợ này bao gồm các khoản nợ như sau: + Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 30 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai + Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. Nợ xấu Nhóm 4: Nợ nghi ngờ Nhóm nợ này bao gồm: + Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày 12 + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn dưới 30 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai.
Nợ xấu Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn Nhóm nợ này dựa trên các tiêu chí sau: + Nợ quá hạn trên 360 ngày + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn từ 30 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai. Cũng theo Thông tư số 11/2021/TT-NHNN về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, nợ đủ tiêu chuẩn không phải trích lập dự phòng rủi ro, nợ cần chú ý trích lập 5%, nợ dưới tiêu chuẩn trích lập 20%, nợ nghi ngờ trích lập 50% và nợ có khả năng mất vốn phải trích lập 100%.3 Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu Nợ xấu hình thành từ hai nhóm nguyên nhân gồm nhóm nguyên nhân khách quan là các yếu tố bên ngoài ngân hàng và nhóm nguyên nhân chủ quan là các yếu tố nội tại bên trong ngân hàng. 13 Yếu tố khách quan Yếu tố chủ quan Môi trường pháp lý Chính sách, cơ cấu cho vay Nền kinh tế Nợ Chất lượng cán bộ tín dụng Môi trường tự nhiên xấu Kiểm soát nội bộ Đạo đức, năng lực khách Năng lực quản lý của cấp hàng lãnh đạo Hình 1.1 Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu Nguyên nhân khách quan xuất phát từ các yếu tố ngoài ngân hàng Pháp lý là một yếu tố vô cùng quan trọng trong quá trình cấp tín dụng. Nếu hành lang pháp lý phù hợp, rõ ràng, các văn bản và quy định được xây dựng một cách khoa học, chặt chẽ thì quy trình tín dụng sẽ minh bạch, các khâu trong quy trình tín dụng đều được kiểm soát tốt, nhờ đó giúp cho các ngân hàng giảm thiểu rủi ro khi cấp tín dụng, các khoản tín dụng đã cấp sẽ được thu hồi cả gốc lẫn lãi một cách nhanh chóng, thuận tiện.