CHƯƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ 1.1 Các loại chế độ tỷ giá 1.1 Chế độ tỷ giá cố định. Tỷ giá hối đoái được các chính phủ gắn cố định vào một tài sản hoặc trong các yếu tố sau: * Tỷ giá được gắn với vàng (bạc) Được hình thành từ thời Trung cổ và kết thúc khi Thế chiến thứ I bùng nổ, chế độ tỷ giá gắn kết cố định với tài sản có giá trị mà chủ yếu là vàng (bạc). Đây được xem là hệ thống tiền tệ có quá trình phát triển lâu dài nhất trong lịch sử tiền tệ. Trong chế độ này, mỗi đồng tiền được đảm bảo bằng một hàm lượng vàng (bạc) tương ứng.
Tỷ giá giữa các đồng tiền được xây dựng trên cơ sở ngang giá vàng (bạc). Đây là thời kỳ giá trị tiền tệ luôn ổn định, lạm phát được kiềm chế. Chế độ tỷ giá này đã không còn tồn tại từ khi chế độ bản vị vàng phá sản. * Tỷ giá được gắn với một đồng tiền nhất định Đây là chế độ tỷ giá, trong đó, chính phủ gắn đồng tiền của nước mình với một đồng tiền quốc tế chủ chốt mà không, hoặc hiếm khi điều chỉnh giá trị so sánh giữa chúng.
Khi muốn thay đổi giá trị bản tệ, các nước này thường công bố trước lịch điều chỉnh tỷ giá giữa bản tệ với đồng tiền mà nó gắn vào. Như vậy, tỷ giá hối đoái có thể thay đổi nhưng chỉ biến động trong một mức độ nhất định và không mang yếu tố bất ngờ. * Tỷ giá được gắn với một hỗn hợp tiền tệ Một số chính phủ gắn đồng tiền của mình với hỗn hợp các đồng tiền như: Bangladesh, Kuwait, Nepal, Jordan, Samoa v. Mức độ tác động của từng đồng tiền thành viên đến đồng tiền tính giá tỷ lệ thuận với tỷ trọng nó chiếm giữ trong hỗn hợp tiền tệ.
Với cách thiết lập tỷ giá như trên, các nước có đồng tiền gắn kết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 vừa có thể thực hiện được mục tiêu ổn định tiền tệ vừa phân tán được rủi ro hối đoái do đồng tiền của họ không bị lệ thuộc quá nhiều vào một đồng tiền nhất định. * Tỷ giá được gắn với một đồng tiền hoặc một rổ tiền tệ trong một khoản chênh lệch xác định trước Các quốc gia lựa chọn tỷ giá này sẽ gắn đồng tiền của mình vào một đồng tiền khác hoặc với một rổ tiền tệ trong một biên độ dao động nhất định, thường là nhỏ và không đáng kể. Cơ chế thành lập đồng tiền chung EUR của Liên minh Châu Au (EU), quyền rút vốn đặc biệt (SDR) của Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF) là những ví dụ điển hình cho chế độ tỷ giá này. * Tỷ giá cố định có điều chỉnh Đây là thỏa ước về hệ thống tỷ giá cân bằng theo Hiệp định Bretton Woods.
Theo Hiệp định này, đô- la Mỹ được định giá với vàng là 35 USD/ ounce vàng và nó là đồng tiền duy nhất được chuyển đổi trực tiếp thành vàng. Mỗi quốc gia thành viên xây dựng một tỷ giá trung tâm giữa đồng tiền của quốc gia mình với USD; đồng thời, có trách nhiệm giữ tỷ giá giữa bản tệ với USD dao động trong biên độ +/- 1% (về sau được nới rộng lên +/- 2,5%) so với tỷ giá trung tâm bằng cách đặt lệnh mua bán ngoại hối trên thị trường tiền tệ khi cần thiết. Khi một quốc gia rơi vào tình trạng “mất quân bình cơ bản”, nước này được phép thay đổi tỷ giá trung tâm bằng cách phá giá hay nâng giá tiền tệ. Nếu mức thay đổi tỷ giá trung tâm dưới +/- 10%, IMF không can thiệp.
Nếu tỷ giá trung tâm biến động lớn hơn +/ - 10%, phải được sự chấp thuận của IMF. Ưu điểm chung của các chế độ tỷ giá cố định là các quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá này có thể thu hút được một lượng vốn nước ngoài dồi dào do các nhà đầu tư quốc tế ít lo ngại về rủi ro tỷ giá. Tỷ giá ổn định cũng góp phần đáng kể trong việc đẩy mạnh sản xuất, kích thích ngoại thương phát triển, bình ổn giá. Đối với các quốc gia nhỏ hoặc các nước có nền kinh tế non yếu, chính phủ của họ có thể tìm được một điểm tựa vững vàng về tiền tệ, kinh tế, và thậm chí về chính trị từ nước có đồng tiền được chọn làm điểm neo tỷ giá.
Trong một số trường hợp nhất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 định, đặc điểm này có thể trở thành ưu tiên bậc nhất trong việc lựa chọn chế độ tỷ giá của các quốc gia. Nhược điểm: Bên cạnh các thuận lợi nêu trên, các nước sử dụng chế độ tỷ giá cố định cũng gặp không ít khó khăn. Trước hết là sự mất tự chủ về tiền tệ. Do chính sách tiền tệ bị ràng buộc để giữ vững tỷ giá, các quốc gia lựa chọn chế độ tỷ giá này không thể linh hoạt trong việc điều chỉnh những bất cân xứng trong nền kinh tế một cách nhanh nhất.
Lấy Hệ thống tiền tệ Châu Âu làm ví dụ, khi chấp nhận tham gia khu vực đồng Euro, các quốc gia thành viên đã neo giá trị của các đồng bản tệ với đồng Euro theo một tỷ giá cố định. Để thực hiện các mục tiêu chung của Liên minh và bảo vệ hệ thống tỷ giá này, các quốc gia thành viên phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định như: thâm hụt ngân sách, nợ công. Quyền độc lập về tiền tệ của các nước này không còn nữa. Kế tiếp, đối với các quốc gia chọn chế độ tỷ giá cố định gắn với một ngoại tệ mạnh, quyền tự chủ tiền tệ của họ cũng bị ảnh hưởng.
Do bị gắn chặt về tiền tệ, nền kinh tế của các quốc gia này thường bị phụ thuộc nhiều vào sự thăng trầm của đồng tiền mà nó đang gắn kết. Nếu nền kinh tế của quốc gia có đồng tiền mạnh bị suy thoái hoặc khủng hoảng, đồng tiền mạnh bị giảm giá, thì giá trị của các đồng tiền gắn kết với nó cũng biến động theo. Chính sách tiền tệ của nước có đồng tiền gắn kết với ngoại tệ mạnh sẽ phụ thuộc một phần hoặc toàn bộ vào chính sách tiền tệ của quốc gia có đồng tiền mạnh. Ngoài ra, một điều kiện không thể thiếu khi lựa chọn chế độ tỷ giá cố định là nguồn dự trữ ngoại hối của quốc gia phải dồi dào.
Với các nước có nguồn dự trữ ít, hạn hẹp, chính phủ của họ sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc ổn định giá trị bản tệ khi thị trường ngoại hối biến động. Đây là điều đáng lo ngại đối với các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô. Chính sách tỷ giá cố định cũng được cho là quá cứng nhắc vì đã che khuất nội tệ. Sự che đậy thông tin này tạo ra tính không chắc chắn, kích thích các kẻ đầu cơ tấn công vào các đồng tiền này và nhiều nước sẽ giảm dự trữ ngoại hối khi cố gắng bảo vệ đồng tiền của mình chứ không chịu để nó mất giá, Thái Lan trong cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á là một ví dụ điển hình.
Ngoài ra, việc thực hiện các biện pháp chính sách nhằm giữ cho tỷ giá hối đoái cố định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 tương đối khó khăn và tốn kém. Chi phí can thiệp và quản lý dự trữ ngoại hối rất lớn để can thiệp vào thị trường ngoại hối khi cần thiết.2 Chế độ tỷ giá linh hoạt Sau khi hệ thống Bretton Woods bị phá sản vào năm 1973, hầu hết các đồng tiền chính được thả nổi. Vào tháng 1/1976, các thành viên của IMF đã nhóm họp tại Jamaica để thông qua chế độ tỷ giá linh hoạt. Trong chế độ này, tỷ giá hối đoái được điều chỉnh một cách linh hoạt theo sự biến động của thị trường cũng như mục tiêu chính sách tiền tệ của từng quốc gia trong từng thời kỳ nhất định.
Chế độ tỷ giá linh hoạt được biểu hiện dưới các hình thức sau: * Tỷ giá thả nổi có kiểm soát Trong chế độ tỷ giá thả nổi có kiểm soát, chính phủ thường xuyên điều chỉnh tỷ giá thông qua sự thay đổi của các biến số như: mục tiêu phát triển của quốc gia; mức độ hoàn thiện của thị trường tài chánh, thị trường tiền tệ; khả năng quản trị của các doanhnghiệp, đặc biệt là của hệ thống ngân hàng thương mại; sự thâm hụt hoặc thặng dư của cán cân thanh toán, tình hình dự trữ, sự biến động của nền kinh tế toàn cầu. * Tỷ giá thả nổi hoàn toàn Trong chế độ này, tỷ giá hoàn toàn được quyết định bởi cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế. Chính phủ không tác động đến tỷ giá. Qũy dự trữ ngoại hối quốc gia không thay đổi.
Sự thâm hụt (hoặc thặng dư) của cán cân vãng lai sẽ được bù đắp bằng mức thặng dư (hoặc thâm hụt) của cán cân vốn, và ngược lại. Hiện nay, chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn chỉ tồn tại trên lý thuyết; bởi vì, trong nền kinh tế thị trường, bất cứ chính phủ nào cũng tìm cách áp đặt lên tỷ giá nhằm thực hiện chiến lược quản lý tiền tệ, phát triển kinh tế trong kỳ. Ưu điểm: Nhìn chung, chế độ tỷ giá thả nổi có ưu điểm nổi bật là tỷ giá phản ảnh sát với giá trị thực của đồng tiền, tạo điều kiện thuận lợi cho các quốc gia trong cân bằng đối ngoại, và thực hiện quyền tự chủ về tiền tệ. Cụ thể, khi một quốc gia lâm vào tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán, cầu ngoại tệ gia tăng, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 ngoại tệ lên giá.
Việc tăng giá ngoại tệ sẽ làm giảm áp lực về cầu ngoại tệ. Kết quả là tình trạng mất cân đối trong cán cân thanh toán được khắc phục. Ngoài ra, với chế độ tỷ giá thả nổi, chính phủ có nhiều thuận tiện trong việc sử dụng các chính sách tiền tệ- tài chánh phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế trong kỳ. Hạn chế: Chế độ tỷ giá thả nổi cũng có những hạn chế nhất định.
Việc tỷ giá thường xuyên biến động tạo tâm lý không ổn định trong công chúng, là căn nguyên của rủi ro ngoại hối gây cản trở cho việc thu hút nguồn vốn đầu tư và kinh doanh quốc tế. Thị trường luôn có rủi ro và méo mó do các thế lực của thị trường nên dẫn đến tỷ giá hối đoái ở mức không phù hợp với các chỉ số kinh tế cơ bản của nền kinh tế.