Đặt vấn đề Trong sự nghiệp xây dựng Nông thôn mới hiện nay, sự phát triển làng nghề đã có những đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế nông thôn. Nó đã giải quyết việc làm cho hơn 11 triệu lao động lúc nông nhàn, đóng góp cho xuất khẩu 600 triệu USD. Với tốc độ phát triển 8%/ năm tính theo giá trị đầu ra, sự phát triển làng nghề đã nâng cao thu nhập của người dân nông thôn gấp 3 - 4 lần so với hoạt động sản xuất nông nghiệp, đồng thời góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn. Các làng nghề nông thôn đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển Việt Nam.
Phần lớn các làng nghề đã hình thành lâu đời có giá trị văn hóa lịch sử của địa phương. Trong khu vực nông thôn các hoạt động làng nghề đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo đời sống nhân dân, làm tăng quan hệ làng xóm láng giềng, góp phần đảm bảo an ninh trật tự nông thôn. Ngoài ra các sản phẩm làng nghề cũng góp phần truyền bá giá trị văn hóa, lịch sử của Việt Nam ra nước ngoài. Tuy nhiên bên cạnh mặt tích cực kể trên thì các làng nghề nước ta hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Theo kết quả phân tích của Viện KH & CNMT Trường Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2002 thì 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép, nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm, ở các làng nghề chế biến nông sản, dệt nhuộm nước thải cống chung từ khu vực sản xuất chứa hàm lượng COD rất cao có khi lên đến 2003 mg/l vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 3 - 4 lần, ở các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ, sơn mài ước tính tải lượng ô nhiễm không khí do đốt than để nung gốm sứ lên tới hàng triệu m3 khí độc. Sống trong điều kiện môi trường như vậy, người dân ở các làng nghề phải đối mặt với những căn bệnh mang tính nghề nghiệp, sức khoẻ bị ảnh hưởng. ở làng nghề giấy Phong Khê (Bắc Ninh) có 30% dân số bị mắc bệnh về da liễu, hô hấp và n đường ruột. Tại làng nghề Bát Tràng qua khảo sát 223 người dân thì có 76 người mắc bệnh đường hô hấp, 23 người bị lao.
Còn tại làng nghề tái chế kim loại tỷ lệ người mắc bệnh hiểm nghèo như ung thư, dị tật bẩm sinh tương đối cao. Trong cơ cấu làng nghề nói chung, làng nghề miến dong là 1 trong những làng nghề có vị trí quan trọng. Hoạt động của các làng nghề miến dong tạo ra giá trị về mặt kinh tế, xã hội. Sự đổi mới trong chính sách kinh tế xã hội của đất nước đã tạo điều kiện cho nhiều làng nghề miến dong có cơ hội phát triển, mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường trong và ngoài nước.
Làng nghề với những hoạt động phát triển đã gây ra tác động tích cực và tiêu cực đến đời sống kinh tế xã hội , môi trường và mang đặc thù đa dạng, các loại chất thải đặc biệt là nước thải gây ô nhiễm nặng nề trong một số khu vực. Đối với nước thải từ các cơ sở miến dong thông thường còn chứa nhiều hóa chất còn lại trong đó. Vì vậy nước thải có pH, COD, TS, SS, BOD5, độ màu cao đến rất cao. Làng nghề miến dong Việt Cường xã Hóa Thượng huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên là một làng nghề miến dong điển hình về xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái Nguyên.
Hiện nay các cơ sở miến dong ở Việt Cường đã được tập trung lại. Tuy nhiên hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xử lí ô nhiễm môi trường ở đây còn rất lạc hậu. Hàng ngày các cơ sở nghiền bột xả ra môi trường khoảng 900 m3 nước thải với hàm lượng COD lên đến hàng trăm mg/l. Các loại hóa chất tẩy trắng còn lại trong nước thải đã gây ô nhiễm trầm trọng cho môi trường nước trong khu vực xóm Việt Cường.
của xã Hóa Thượng. Ô nhiễm môi trường đã gây tác động tiêu cực rõ rệt đến sức khỏe cộng đồng và ảnh hưởng xấu đến điều kiện xã hội của xóm. Trước thực trạng bức xúc về vấn đề môi trường của làng nghề miến dong tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu thực trạng môi trường và đề xuất giải pháp khắc phục ở làng nghề miến dong Việt Cường xã Hóa Thượng huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên. Mục đích nghiên cứu Đánh giá thực trạng môi trường đất, nước, không khí ở làng nghề miến dong Việt Cường và xây dựng giải pháp quy hoạch môi trường làng nghề để cải thiện môi trường góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Mục tiêu nghiên cứu Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề miến dong Việt Cường xã Hóa Thượng. Xây dựng giảI pháp quy hoạch môi trường làng nghề miến dong Việt Cường. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu hiện trạng môi trường làng nghề miến dong Việt Cường - Đánh giá chất lượng môi trường làng nghề sản xuất miến dong Việt Cường - Đưa ra phương hướng mục tiêu đề xuất quy hoạch môi trường làng nghề miến dong Việt Cường 1. Yêu cầu của đề tài - Yêu cầu số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực.
- Các kiến nghị đưa ra phải phù hợp với tình hình phát triển tại địa phương và có tính khả thi cao. Ý nghĩa của đề tài - Vận dụng và phát huy kiến thức lí thuyết đã học vào thực tiễn. - Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU n 2.
Quy hoạch môi trường 2. Khái niệm và tiêu chí làng nghề “Làng nghề” là các làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công, phi nông nghiệp chiến ưu thế về số hộ, số lao động và thu nhập so với nghề nông. Có nhiều hình thức làng nghề: Làng một nghề làng nhiều nghề, làng nghề truyền thống, làng nghề mới. Có nhiều ý kiến khác nhau nhưng nói chung đều thống nhất một số điểm chủ yếu sau [2]: - Giá trị sản xuất và thu nhập từ nghề phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm.
- Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất từ 50% so với tổng số hộ và lao động ở làng nghề. - Sản phẩm phi nông nghiệp do làng nghề sản xuất mang tính đặc thù của làng và do người làng tham gia.2 Đặc điểm chung của làng nghề Mỗi làng nghề tuy có sự khác nhau về quy mô sản xuất, quy trình công nghệ, tính chất sản phẩm nhưng đều có chung một số đặc điểm sau: -Quy mô sản xuất nghề nhỏ (gia đình, thôn, xóm), trình độ thủ công, thiết bị chắp vá, lạc hậu, cơ sở sản xuất xen lẫn trong khu dân cư. - Lực lượng lao động không phân biệt tuổi tác, giới tính, phần lớn có quan hệ gia đình dòng họ, được đào tạo theo kiểu kinh nghiệm “cha truyền con nối”. - Phát triển không theo quy hoạch, không ổn định, có tính thời vụ, thăng trầm phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất, nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.
- Các làng nghề từ Bắc đến Nam có nhiều tính chất tương đồng về nghề, về sản phẩm, tính văn hoá nghệ thuật do hiện tượng di dân, di nghề và sự bành trướng tự nhiên của hiện tượng kinh tế xã hội làng nghề. Phân loại làng nghề Theo Đặng Kim Chi, viện KH&CNMT, ĐHBK, Hà Nội có nhiều cách khác nhau để phân loại các làng nghề,theo ngành sản xuất và loại hình sản xuất, thì hiện nay làng nghề nước ta có thể phân thành 6 ngành chính như sau: - Ươm tơ, dệt vải và may đồ da - Chế biến lương thực thực phẩm, dược liệu - Tái chế phế liệu (giấy, nhựa, kim loại…) - Thủ công mỹ nghệ, thêu ren. - Vật liệu xây dựng, khai thác và chế tác đá - Nghề khác. Vai trò của hoạt động sản xuất tại các làng nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội Ngày nay, trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước nói chung, khu vực nông thôn nói riêng, các làng nghề có tác dụng rất lớn đối với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động.
Trong nông thôn Việt Nam, số hộ, cơ sở ngành nghề nông thôn chiếm 11,29%. Sự phát triển của các làng nghề gắn liền với sự hình thành và phát triển của cơ chế thị trường có sự định hướng của Nhà nước, biểu hiện ở sự đa dạng của cơ cấu ngành nghề và cơ cấu sản phẩm. Có hơn 90% sản phẩm của ngành nghề nông thôn tiêu thụ ở trong nước, sản phẩm tham gia xuất khẩu chủ yếu là hàng thủ công mỹ nghệ, hiện nay đã có mặt ở 100 nước. Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và đồ gia dụng năm 2000 ước đạt khoảng 300 triệu USD, năm 2006 ước đạt khoảng 600 triệu USD.
Hiện nay, trong nông thôn có khoảng 11 triệu lao động ngành nghề phi nông nghiệp, chiếm 30,45% lực lượng lao động nông thôn. Các ngành nghề nông thôn phát triển đã tạo thêm việc làm mới, thu hút thêm lao động. Do đó ngành n nghề nông thôn được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn, Với tốc độ phát triển 8% tính theo giá trị đầu ra, sự phát triển làng nghề đã nâng cao thu nhập của người dân làng nghề gấp 3- 4 lần so với hoạt động sản xuất nông nghiệp. Trên cơ sở tạo ra việc làm, tăng thêm thu nhập, làng nghề nông thôn được coi là động lực làm chuyển dịch cơ cấu xã hội nông thôn theo hướng tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, nâng cao phúc lợi cho người dân.
Các làng nghề ở nông thôn phát triển đã tạo ra một khối lượng hàng hoá đáng kể, đáp ứng kịp thời nhu cầu đa dạng của đời sống nhân dân, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế địa phương và tăng kim ngạch xuất khẩu. Thị trường trong nước và ngoài nước được mở rộng đã có tác dụng kích thích sản xuất và phát triển.