MỞ ĐẦU Thị xã Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang có tiềm năng lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di sản văn hóa lịch sử. Hà Tiên là khu kinh tế trọng điểm của tỉnh, với định hƣớng phát triển kinh tế cửa khẩu, dịch vụ thƣơng mại, du lịch, và chú trọng quy hoạch khai thác tài nguyên để phát triển bền vững. Hệ sinh thái núi đá vôi và đất ngập nƣớc vùng Hà Tiên nằm trong Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang, trong đó đầm nƣớc lợ Đông Hồ là một điểm nhấn quan trọng. Đầm Đông Hồ nằm ở phía Đông Bắc thị xã Hà Tiên, gắn liền với đời sống lịch sử và đóng góp đáng kể cho việc phát triển kinh tế xã hội của Hà Tiên.
Đầm Đông Hồ là một vùng đất ngập nƣớc ven biển, là hạ lƣu của sông Giang Thành, thông ra biển qua cửa Trần Hầu. Do vị trí của đầm bắt nguồn từ sông tự nhiên và tiếp giáp với biển nên phân bố hệ động thực vật bị chi phối bởi các dạng hệ sinh thái chính là hệ sinh thái nƣớc ngọt dọc sông, hệ sinh thái nƣớc lợ, và hệ sinh thái nƣớc mặn ven biển. Đầm có tính đa dạng sinh học rất cao. Trong một năm đầm bị ảnh hƣởng bởi hai mùa, mùa mƣa chịu ảnh hƣởng của nƣớc ngọt theo lũ từ sông đổ về, mùa khô đầm chịu ảnh hƣởng của nƣớc mặn do thủy triều xâm nhập sâu vào hồ.
Nằm trong phạm vi của Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang, những năm qua tình trạng khai thác tài nguyên, lấn chiếm lòng đầm để phát triển kinh tế kết hợp với sự thay đổi chế độ thủy văn dòng chảy qua chƣơng trình thoát lũ biển Tây, các tác động từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, nuôi tôm công nghiệp từ các vùng lân cận, khai thác thủy sản trong lòng đầm đã làm suy thoái hệ sinh thái và môi trƣờng đầm Đông Hồ. Sự phát triển kinh tế - xã hội là một xu hƣớng tất yếu, tuy nhiên quá trình phát triển tạo ra nhiều áp lực và tác động đến môi trƣờng và nguồn tài nguyên thiên nhiên. Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên nên đƣợc giải quyết dựa trên quan điểm “phát triển bền vững”, trong quá trình phát triển phải quan tâm đến bảo tồn, đồng thời cũng phải đánh đổi một phần tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho phát triển. Đối với một khu vực đặc biệt là đầm Đông Hồ - Hà Tiên, bảo tồn đa dạng sinh học và môi trƣờng của đầm là nhiệm vụ quan trọng.
Thực hiện tốt công tác bảo tồn là cơ sở cho cộng đồng dân cƣ phát triển đời sống và thu nhập. Ngƣợc lại, việc nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân sẽ giúp cho công tác bảo tồn hiệu quả hơn. Vì vậy, học viên tiến hành nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên của đầm Đông Hồ - Hà Tiên, cũng nhƣ các giá trị lịch sử văn 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hóa và vai trò của đầm trong Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang. Luận văn sẽ đƣa ra cái nhìn tổng quan về đầm Đông Hồ và hiện trạng tài nguyên, môi trƣờng của đầm, từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững đầm Đông Hồ.
Cấu trúc luận văn gồm 3 chương: Chƣơng I. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng II. Mục tiêu, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng III. Kết quả nghiên cứu và thảo luận 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 – TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Trên thế giới Tháng 6 năm 1972, Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Con ngƣời và Môi trƣờng đƣợc tổ chức tại Stockhom (Thụy Điển) đƣợc đánh giá là hành động đầu tiên đánh dấu nỗ lực chung của toàn nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môi trƣờng. Hội nghị đã thông qua bản tuyên bố về nguyên tắc và kế hoạch hành động chống ô nhiễm môi trƣờng. Chƣơng trình Môi trƣờng của Liên Hợp Quốc đƣợc thành lập.
Năm 1984, Ủy ban Môi trƣờng và Phát triển Thế giới (World Commission on Environment and Development - WCED), nay còn đƣợc biết đến với tên Ủy ban Brundtland đƣợc thành lập, với nhiều cống hiến giá trị cho sự phát triển bền vững. Năm 1987, WCED xuất bản báo cáo "Tƣơng lai của chúng ta" (còn gọi là Báo cáo Brundtland), lần đầu tiên công bố chính thức thuật ngữ "phát triển bền vững", đƣa ra định nghĩa cũng nhƣ một cái nhìn mới về cách hoạch định các chiến lƣợc phát triển lâu dài. Năm 1992, Hội nghị về Môi trƣờng và Phát triển của Liên Hợp Quốc (còn gọi là Hội nghị thƣợng đỉnh về Trái Đất) đƣợc tổ chức tại Rio de Janeiro, Brasil. Các đại biểu tham gia Hội nghị đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động Chƣơng trình Nghị sự 21 (Agenda 21) - chƣơng trình hành động vì sự phát triển bền vững.
Hội nghị cũng đƣa ra Tuyên ngôn Rio về môi trƣờng và phát triển và một số văn kiện nhƣ hiệp định về sự đa dạng sinh học, bộ khung của hiệp định về sự biến đổi khí hậu, tuyên bố về nguyên tắc quản lý, bảo tồn rừng. Năm 2002, Hội nghị thƣợng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững nhóm họp tại Johannesburg, Nam Phi để tổng kết việc thực hiện Tuyên ngôn Rio và Chƣơng trình Nghị sự 21, tiếp tục tiến hành với một số mục tiêu ƣu tiên. Những mục tiêu này gồm xóa nghèo đói, phát triển những sản phẩm thân thiện với môi trƣờng nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Những năm qua các quốc gia trên thế giới đã và đang đẩy mạnh nghiên cứu và thực hành bảo tồn đa dạng sinh học theo mục tiêu thiên niên kỷ 2001-2016 (mô hình bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững ở các khu Dự trữ Sinh quyển Thế 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giới MAB/UNESCO), bảo vệ các vùng đất ngập nƣớc quan trọng theo Công ƣớc RAMSAR về các vùng đất ngập nƣớc có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt nhƣ là nơi cƣ trú của loài chim nƣớc.
Tại Việt Nam a. Tình hình nghiên cứu chung về bảo tồn và phát triển tài nguyên và môi trường Việt Nam đang trở thành nƣớc tham gia tích cực Công ƣớc RAMSAR và mục tiêu thiên niên kỷ 2001-2016 nói trên. Một số dự án tiêu biểu: Mô hình học tập và thực nghiệm bảo tồn và phát triển bền vững Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cát Bà, xóa đói nghèo và bảo tồn đa dạng sinh học Vƣờn quốc gia Biduop Núi Bà Lâm Đồng. Việt Nam đã tham gia Chƣơng trình Bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền vững đất ngập nƣớc sông Mêkông - là một chƣơng trình có sự tham gia của bốn quốc gia thuộc vùng hạ lƣu sông Mêkông: Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam – dƣới sự quản lý của Chƣơng trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN) và có sự cộng tác của các tổ chức có liên quan khác.
Chƣơng trình cố gắng xác định những vấn đề then chốt trong việc bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên trong các vùng đất ngập nƣớc sông Mêkông. Mục tiêu của chƣơng trình là nâng cao năng lực của các tổ chức và ngƣời dân để phát triển sinh kế bền vững và quản lý một cách khôn khéo nguồn tài nguyên đa dạng sinh học của đất ngập nƣớc. Tình hình nghiên cứu về Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang và đầm Đông Hồ Tại khu vực nghiên cứu đã có một số nội dung nghiên cứu về đặc điểm và vai trò của đầm Đông Hồ, định hƣớng phát triển bền vững đầm: - Chiến lƣợc phát triển sản phẩm du lịch tỉnh Kiên Giang đến năm 2020, định hƣớng đến năm 2030 do Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch đề xuất năm 2012. - Hội thảo khoa học Phát triển du lịch sinh thái Đông Hồ (2004), Hội thảo Định hƣớng quy hoạch bảo tồn và phát triển đầm Đông Hồ - Việt Nam (2011) đƣợc tổ chức bởi UBND thị xã Hà Tiên.
- Dự án Bảo tồn và phát triển khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang giai đoạn 2008 - 2016 do CHLB Đức - Australia và Chính phủ Việt Nam hợp tác thực hiện. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Đề tài "Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển du lịch gắn với bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang" do Viện Môi trƣờng và phát triển bền vững chủ trì, bắt đầu tháng 10 năm 2015. Tuy nhiên đề tài này chƣa có công trình nào đƣợc công bố chính thức. Điều kiện tự nhiên đầm Đông Hồ 2.
Vị trí địa lý Khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang đƣợc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận năm 2006 có diện tích 1.105 ha, do UBND tỉnh Kiên Giang quản lý, nhằm thúc đẩy bảo tồn các khu rừng nhiệt đới, núi đá vôi, rừng trên núi đá vôi, đầm lầy, rừng tràm, rừng ngập mặn, cỏ biển, rạn san hô, vùng đất ngập nƣớc ven biển và đồng cỏ ngập nƣớc theo mùa [28]. Sơ đồ Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang [28] Quan điểm về quản lý Khu Dự trữ sinh quyển hiện nay là: phải phát triển tốt mới có điều kiện để bảo tồn và phải phát huy tốt giá trị của bảo tồn để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm hài hòa các chức năng của Khu Dự trữ sinh quyển, gồm: - Chức năng bảo tồn: bảo tồn đa dạng hệ sinh thái, đa dạng cảnh quan và đa dạng loài, đa dạng nguồn gen… - Chức năng phát triển: Thúc đẩy phát triển kinh tế trên cơ sở bền vững về môi 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trƣờng và văn hoá. - Chức năng trợ giúp (chức năng hậu cần): Khu Dự trữ sinh quyển là “Phòng thí nghiệm sống trong thiên nhiên” là nơi tiến hành các hoạt động nghiên cứu, giáo dục, đào tạo và giám sát các hệ sinh thái, đem lại lợi ích cho cộng đồng cƣ dân địa phƣơng, quốc gia và quốc tế [30]. Cấu trúc của Khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang có 3 vùng: - Vùng lõi, diện tích 36.936 ha đƣợc thiết lập có tính chất lâu dài nhằm bảo tồn cảnh quan, hệ sinh thái và đa dạng loài, giống… Ở vùng lõi ít có hoạt động khai thác của con ngƣời, ngoại trừ các hoạt động khai thác truyền thống của cộng đồng cƣ dân sống tại đó và có thể có các hoạt động giải trí bền vững.