Chương 1: TỔNG QUAN VỀ BÀI TOÁN LẬP LỊCH HIỆN NAY VÀ CÁC CÁCH TIẾP CẬN Bài toán lập lịch luôn là một bài toán khó, mang tính khoa học đồng thời tính thực tiễn cũng rất cao. Không chỉ Việt Nam mà trên toàn cầu từ lâu việc lập lịch đã trở thành một vấn đề có tính thời sự, một bài toán gây được sự chú ý, quan tâm của nhiều người. Bài toán lập thời khóa biểu là một nhánh của bài toán lập lịch trong đó đưa ra một chuỗi các sự kiện (thông thường là các môn học, bài giảng hoặc các môn thi) và bao gồm các giáo viên và học viên trong một khoảng thời gian định trước và thỏa mãn một tập hợp các ràng buộc của từng loại thời khóa biểu khác nhau. Mỗi bài toán có các tính chất riêng, khi sắp lịch thi bài toán đặt ra là phải đáp ứng được yêu cầu về thời gian (như không được trùng hay quá sát nhau) giữa các lần thi liên tiếp của cùng một học sinh, sinh viên.
Còn khi sắp lịch cho trường phổ thông thì chúng ta cần quan tâm giờ rảnh mà giáo viên đăng ký và các tiết trống giữa giờ học của học sinh đóng vai trò rất quan trọng cho việc đánh giá kết quả của thời khóa biểu. Đối với đại học, bài toán cần giải quyết cũng là việc tránh xung đột giữa các thành phần tham gia trong thời khóa biểu (giáo viên, lớp học, phòng học và thiết bị). Vì thế, mục tiêu cuối cùng của người sắp thời khóa biểu là tạo ra một thời khóa biểu với ít xung đột nhất. Cũng đã có các khảo sát về bài toán sắp thời khóa biểu.
Như việc đưa ra tổng quan các vấn đề về sắp thời khóa biểu thuộc ba dạng ta đã đề cập ở trên của Schaerf, 1995 [1]. Các khảo sát về sắp lịch thi Carter & Laporte, 1996 [2] và sắp lịch cho trường đại học Carter & Laporte, 1998 [3] Bardadym, 1996 [4]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 (a) Người (b) Lớp học Giáo viên Sự kiện Buổi học Thời gian Địa điểm Môn học Phòng học Hình 1 – Biểu diễn khái niệm bài toán sắp thời khóa biểu Khái niệm được thể hiện bằng hình hộp, các quan hệ là các đường nối các hình hộp đó. Các khái niệm và các quan hệ giữa các khái niệm đó trong một bài toán lập lịch được mô tả tổng quát ở hình (a) và được mô tả cụ thể hơn ở hình (b) 1.1 Bài toán lập thời khóa biểu cho trường phổ thông (School timetabling) Bài toán lập thời khóa biểu cho trường phổ thông hay bài toán phân chia giáo viên, lớp học trong một tuần đối với tất cả các môn học của một trường học.
Với ba tập hợp cho trước là tập giáo viên, tập lớp học và tập tiết học và một ma trận ràng buộc số bài giảng một giáo viên được phân công dạy một lớp. Bài toán yêu cầu phân chia các bài giảng vào các tiết sao cho không giáo viên hay lớp học nào có cùng một bài giảng trong cùng một thời gian và mỗi giáo viên đều có một số lượng nhất định các bài giảng với mỗi lớp học.2 Bài toán lập thời khóa biểu cho trường đại học (University timetabling) Bài toán lập thời khóa biểu cho trường đại học là bài toán lập lịch cho các bài giảng (lectures) vào từng khóa học với một số lượng phòng học và tiết học cho trước. Điểm khác biệt chính với bài toán lập thời khóa biểu trường phổ thông là đặc trưng của các khóa học ở trường đại học, các sinh viên tham dự khóa học, trong khi các lớp học ở trường phổ thông được tạo bởi tập hợp các học sinh và có thể coi như là một thực thể đơn. Ở các trường đại học, hai khóa học khác nhau có thể có trùng sinh viên tham dự và điều đó có thể tạo ra xung đột và sẽ không thể lập lịch được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 trong cùng một tiết học.
Thêm vào đó, các giáo viên ở trường phổ thông luôn dạy nhiều hơn một lớp trong khi ở trường đại học một giảng viên thường chỉ dạy một vài khóa học hay một vài môn học trong một kỳ. Cuối cùng, với bài toán trường đại học kích cỡ các phòng học chiếm một vai trò quan trọng trong khi với bài toán trường phổ thông vấn đề này là không quan trọng bởi vì trong hầu hết các trường phổ thông mỗi lớp có một phòng học riêng.3 Bài toán lập lịch thi (Examination timetabling) Bài toán lập lịch thi tương tự như bài toán lập thời khóa biểu cho trường đại học nhưng ta cần phân biệt sự khác nhau giữa hai bài toán này. Bài toán lập lịch thi có những đặc điểm khác sau đây: • Chỉ có một kỳ thi cho mỗi một môn thi. • Các điều kiện xung đột nói chung là hạn chế.
Thực tế, chúng ta có thể chấp nhận một sinh viên có thể bỏ qua một bài giảng do sự chồng chéo các môn học; nhưng không có sinh viên nào được phép bỏ qua một kỳ thi hết môn đã học vì nếu sinh viên không qua được kỳ thi này coi như trượt môn đó. • Và một số ràng buộc khác như hầu hết một sinh viên sẽ chỉ có một môn thi trong một ngày và không có nhiều quá các môn thi liên tiếp nhau với một sinh viên. • Thời gian thi của các môn thi có thể khác nhau, ngược lại với bài toán lập thời khóa biểu cho trường đại học thì thời gian học được tính bằng tiết (45 – 50 phút tùy quy định của trường). • Có thể có nhiều hơn một môn được thi trong một phòng nhưng lại thì không thể có nhiều bài giảng được diễn ra trong một phòng tại một thời điểm.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Bài toán lập lịch theo tín chỉ Trước hết để xây dựng được mô hình bài toán lập lịch theo tín chỉ ta cần phải tìm hiểu và trả lời được câu hỏi “Tín chỉ là gì?” Có rất nhiều định nghĩa về tín chỉ, khoảng 60 định nghĩa khác nhau, có định nghĩa coi trọng khía cạnh định tính, có định nghĩa coi trọng khía cạnh định lượng, có định nghĩa nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của sinh viên, có định nghĩa lại nhấn mạnh vào các mục tiêu của chương trình học. Một định nghĩa về tín chỉ được các nhà quản lý và nhà nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam biết đến nhiều nhất có lẽ là của học giả người Mỹ gốc Trung Quốc James Quann thuộc ĐH Washington. Cách hiểu của ông về tín chỉ được theo bảo dịch của Bộ Giáo dục và Đào tạo như sau: “Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn cụ thể, bao gồm: 1. Thời gian lên lớp; 2.
Thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khoá biểu; 3. Thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài.; đối với môn học lý thuyết một tín chỉ là một gìờ lên lớp (với 2 giờ chuẩn bị bài) trong tuần và kéo dài trong một học kỳ 15 tuần; đối với các môn học ở sudio hay phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn); đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ trong một tuần. “ Theo cách hiểu của PGS.TS Hoàng Văn Vân khoa sau ĐH – ĐH Quốc gia Hà Nội như sau: “Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kỹ năng của một môn học mà người học cần phải tích luỹ trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: 1. Học tập trên lớp; 2.
Học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giáo viên); 3. Tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài. Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của người học trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu chuẩn.” Như vậy, có 7 điểm cần phải làm rõ từ định nghĩa về tín chỉ này. Thứ nhất, hoạt động dạy - học theo tín chỉ được tổ chức theo ba hình thức: lên lớp, thực hành, và tự học.
Trong ba hình thức tổ chức dạy - học này, hai hình thức đầu được tổ chức có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giáo viên và sinh viên (giáo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 viên giảng bài, hướng dẫn, sinh viên nghe giảng, thực tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên.), hình thức thứ ba không có sự tiếp xúc giữa giáo viên và sinh viên (giáo viên giao nội dung để sinh viên tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành). Ba hình thức tổ chức dạy - học này tương ứng với ba kiểu giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lên lớp, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín chỉ tự học. Theo đó, một giờ tín chỉ lên lớp bao gồm 1 tiết (50 phút) giáo viên giảng bài và 2 tiết sinh viên tự học, tự nghiên cứu ở nhà; một giờ tín chỉ thực hành bao gồm 2 tiết giáo viên hướng dẫn, điều khiển và giúp đỡ sinh viên thực hành, thực tập; và một giờ tín chỉ tự học bao gồm 3 tiết sinh viên tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành theo những nội dung giáo viên giao và những gì sinh viên thấy cần phải nghiên cứu hoặc thực hành thêm (những hoạt động học tập này có thể được thực hiện ở nhà hoặc ở trong phòng thí nghiệm, trong studio. Thứ hai, trong ba hình thức tổ chức dạy - học, cụ thể là trong ba kiểu giờ tín chỉ, lượng kiến thức sinh viên thu được có thể khác nhau nhưng để thuận tiện cho việc tính toán (giờ chuẩn cho giáo viên, kinh phí cho từng môn học, nhân lực để phục vụ cho dạy - học.), ba kiểu giờ tín chỉ này được coi là có giá trị ngang nhau.
Thứ ba, có hai thuật ngữ dễ gây nhầm lẫn: đó là, một giờ tín chỉ (a credit hour) và một tín chỉ (a credit). Trong các tài liệu nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Âu - Mỹ, hai thuật ngữ này thường được sử dụng thay cho nhau, chỉ chung một giá trị. Trong cách hiểu của chúng tôi, tín chỉ và giờ tín chỉ là hai khái niệm có nội dung khác. Theo đó, một tín chỉ gồm 15 giờ tín chỉ, thực hiện trong một học kỳ, kéo dài 15 tuần, mỗi tuần 01 giờ tín chỉ.
Thứ tư, có thể có những môn học chỉ gồm một kiểu giờ tín chỉ, nhưng có thể có những môn học gồm nhiều hơn một kiểu giờ tín chỉ.