CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN TỰ CÓ CỦA NGÂN HÀNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN TỰ CÓ 1. Khái niệm vốn tự có - Về mặt kinh tế, vốn tự có là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp và nó còn được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại (vốn tự có còn được gọi là vốn chủ sở hữu, vốn riêng). - Về mặt quản lý, theo các cơ quan quản lý ngân hàng, vốn tự có của ngân hàng được chia làm hai loại: + Vốn tự có cơ bản: Là phần vốn tự có hình thành ban đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động của ngân hàng, đây là nguồn vốn tương đối ổn định.
Vốn tự có cơ bản bao gồm vốn điều lệ (vốn ngân sách cấp, vốn cổ phần thường, vốn cổ phần ưu đãi vĩnh viễn), quỹ dự trữ, dự phòng, thặng dư vốn, lợi nhuận không chia và các khoản khác (các tài sản nợ khác theo quy định của ngân hàng Nhà nước). + Vốn tự có bổ sung: là nguồn vốn tăng thêm khi ngân hàng đã đi vào hoạt động và phụ thuộc vào nguồn vốn tự có cơ bản về quy mô và có tính ổn định thấp. Vốn tự có bổ sung bao gồm vốn cổ phần ưu đãi có thời hạn, tín phiếu vốn, trái phiếu chuyển đổi. Theo quy định của các cơ quan quản lý ngân hàng, thì vốn tự có bổ sung không được vượt quá 50% vốn tự có cơ bản.
Ở Việt Nam, theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng năm 1998 và đã được sửa đổi bổ sung năm 2004 thì, vốn tự có gồm giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản “Nợ” khác của tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân hàng nhà nước. Vốn tự có là căn cứ để tính toán các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 Theo quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 4 năm 2005 thì vốn tự có của ngân hàng tương mại bao gồm: Vốn tự có cơ bản (Vốn cấp 1): Vốn điều lệ thực có (vốn đã được cấp, vốn đã góp), quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ và lợi nhuận không chia. Vốn tự có bổ sung (Vốn cấp 2): Phần giá trị tăng thêm của tài sản cố định và của các loại chứng khoán đầu tư được định giá lại, trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi do tổ chức tín dụng phát hành có thời hạn dài.
Đặc điểm vốn tự có - Vốn tự có cung cấp nguồn lực cho ngân hàng hoạt động trong thời gian mới bắt đầu hoạt động, là thời gian mà ngân hàng chưa nhận được tiền gửi từ khách hàng, giúp ngân hàng chống đỡ khi rủi ro phát sinh. - Vốn tự có là nguồn vốn ổn định và luôn tăng trưởng trong quá trình hoạt động của ngân hàng, có thể sử dụng với kỳ hạn dài mà không phải hoàn trả nên nó chính là nền tảng cho sự tăng trưởng của ngân hàng. - Vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh (thông thường từ 10% đến 15%), tuy nhiên nó lại giữ một vai trò rất quan trọng vì nó là cơ sở để hình thành nên các nguồn vốn khác của ngân hàng đồng thời tạo nên uy tín ban đầu, duy trì niềm tin của công chúng vào ngân hàng. - Vốn tự có quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng, là yếu tố để các cơ quan quản lý dựa vào để xác định các tỉ lệ an toàn trong kinh doanh ngân hàng như: giới hạn huy động vốn, giới hạn cho vay, giới hạn đầu tư vào tài sản cố định.
Chức năng vốn tự có: 1. Chức năng bảo vệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 Trong hoạt động kinh doanh có rất nhiều rủi ro, những rủi ro này khi xảy ra sẽ gây ra những thiệt hại lớn cho ngân hàng, đôi khi nó có thể dẫn ngân hàng đến bờ vực phá sản. Khi đó vốn tự có sẽ giúp ngân hàng bù đắp được những thiệt hại phát sinh và đảm bảo cho ngân hàng tránh khỏi nguy cơ trên. Ngoài ra, do mối quan hệ tương hỗ giữa ngân hàng với khách hàng, vốn tự có còn có chức năng bảo vệ cho khách hàng không bị mất vốn khi gửi tiền.
Trong một số trường hợp ngân hàng mất khả năng chi trả thì vốn tự có sẽ được sử dụng để hoàn trả cho khách hàng. Chức năng hoạt động Thể hiện ở chỗ vốn tự có có thể được sử dụng để cho vay, hùn vốn hoặc đầu tư chứng khoán nhằm mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên, do vốn tự có chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh nên lợi nhuận mà nó mang lại cũng không cao. Vì vậy chức năng hoạt động ở đây cũng chỉ là thứ yếu.
Chức năng điều chỉnh Vốn tự có là đối tượng mà các cơ quản quản lý ngân hàng thường căn cứ vào đó để xác định các tỷ lệ an toàn và ban hành những quy định nhằm điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng, là tiêu chuẩn để xác định mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Vốn tự có còn là căn cứ để xác định và điều chỉnh các giới hạn hoạt động nhằm đảm bảo ngân hàng an toàn trong kinh doanh. Thành phần của vốn tự có Vốn tự có của ngân hàng được cơ quan quản lý ngân hàng các nước quy định gồm nhiều yếu tố khác nhau. Ở Việt Nam, vốn tự có của ngân hàng được quy định cụ thể trong Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/04/2005, quyết định số 03/2007/QĐ-NHNN ngày 19/01/2007 và quyết định số 34/2008/QĐ-NHNN ngày 05/12/2008, bao gồm: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Vốn điều lệ (vốn đã được cấp, vốn đã góp): Là nguồn vốn ban đầu ngân hàng có được khi mới hoạt động và được ghi vào bảng điều lệ hoạt động của ngân hàng. Theo quy định của pháp luật, một TCTD để được phép hoạt động thì vốn điều lệ thực tế ≥ vốn điều lệ tối thiểu (vốn pháp định).1 Danh mục Mức vốn pháp định của tổ chức tín dụng (Ban hành kèm theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ) Mức vốn pháp định áp dụng cho đến nă m STT Loại hình tổ chức tín dụng 2008 2010 I Ngân hàng 1 Ngân hàng thương mại a Ngân hàng thương mại Nhà nước 3.000 tỷ đồng b Ngân hàng thương mại cổ phần 1.000 tỷ đồng c Ngân hàng liên doanh 1.000 tỷ đồng d Ngân hàng 100% vốn nước ngoài 1.000 tỷ đồng đ Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài 15 triệu USD 15 triệu USD 2 Ngân hàng chính sách 5.000 tỷ đồng 3 Ngân hàng đầu tư 3.000 tỷ đồng 4 Ngân hàng phát triển 5.000 tỷ đồng 5 Ngân hàng hợp tác 1.000 tỷ đồng 6 Quỹ tín dụng nhân dân a Quỹ tín dụng nhân dân TW 1.000 tỷ đồng b Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở 0,1 tỷ đồng 0,1 tỷ đồng II Tổ chức tín dụng phi ngân hàng 1 Công ty tài chính 300 tỷ đồng 500 tỷ đồng 2 Công ty cho thuê tài chính 100 tỷ đồng 150 tỷ đồng Tùy loại hình ngân hàng mà vốn điều lệ được hình thành từ những nguồn khác nhau: Đối với NHTM quốc doanh, vốn điều lệ do ngân sách nhà nước cấp phát. Đối với NHTM liên doanh, vốn điều lệ do các bên liên doanh đóng góp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 Đối với chi nhánh NHTM nước ngoài, vốn điều lệ do ngân hàng mẹ ở nước ngoài bỏ ra để thành lập.
Đối với ngân hàng TMCP, vốn điều lệ do các cổ đông đóng góp, bao gồm: - Vốn cổ phần thường: Được đo bằng mệnh giá của tổng số cổ phiếu thường hiện hành và được tạo lập khi ngân hàng phát hành các cổ phiếu thường. Cổ tức của cổ phiếu này cao hay thấp phụ thuộc vào kết quả hoạt động của ngân hàng. Do quyền lợi của cổ đông sở hữu cổ phiếu thường gắn liền với quyền lợi của ngân hàng, nên họ được tham gia đại hội cổ đông hàng năm, được quyền bầu cử, ứng cử vào hội đồng quản trị của ngân hàng. Trong trường hợp rủi ro như ngân hàng bị giải thể, các cổ đông này cũng được phân chia giá trị của tài sản thanh lý, nhưng là người cuối cùng được hưởng giá trị tài sản còn lại khi thanh lý.
- Vốn cổ phần ưu đãi: Được đo bằng mệnh giá của tổng số cổ phiếu ưu đãi hiện hành, được hình thành khi ngân hàng bán ra các cổ phiếu ưu đãi. Cổ tức của loại cổ phiếu này thường không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của ngân hàng mà được ấn định bằng một tỉ lệ cố định tính trên mệnh giá của cổ phiếu. Cổ phiếu ưu đãi có thể là vĩnh viễn hoặc chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định. Do quyền lợi của cổ đông sở hữu loại cổ phiếu này không gắn với quyền lợi của ngân hàng, nên họ không được tham gia đại hội cổ đông, không được bầu cử, ứng cử vào hội đồng quản trị của ngân hàng.
Vốn điều lệ được sử dụng như sau: - Xây dựng trụ sở ngân hàng, chi nhánh, phòng giao dịch, điểm giao dịch. - Mua sắm các trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh. - Hùn vốn, mua cổ phần, cho vay trung - dài hạn, đầu tư chứng khoán kiếm lời. - Thành lập các công ty trực thuộc.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Quỹ dự trữ và dự phòng Các quỹ này có chức năng: - Củng cố và gia tăng năng lực bảo vệ vốn tự có của ngân hàng. - Bù đắp những thất thoát trong hoạt động tín dụng. - Chống đỡ thiệt hại khi rủi ro phát sinh.
Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ Quỹ này được hình thành nhằm mục đích bổ sung vốn điều lệ của ngân hàng khi cần thiết để đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng. Hiện nay ở Việt Nam các ngân hàng được trích theo tỷ lệ 5% tính trên lãi ròng hàng năm, mức tối đa của quỹ này không được vượt quá mức vốn điều lệ thực có của ngân hàng. Các quỹ dự phòng a) Quỹ dự phòng tài chính: tỷ lệ trích bằng 10% lãi ròng hàng năm, số dư của quỹ không được phép vượt quá 25% vốn điều lệ của ngân hàng.