CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH XÂY DỰNG ĐƯỜNG GIAO THÔNG CỦA TỈNH ĐĂK LĂK 1. Điều kiện tự nhiên Tỉnh Đăk Lăk cũ được tách ra 2 tỉnh Đăk Lăk và Đăk Nông từ năm 2004; Đăk Lăk là một trong 5 tỉnh của vùng Tây Nguyên Việt Nam và nằm trong Tam giác phát triển (biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia) bao gồm lãnh thổ của 9 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đắk Nông thuộc vùng Tây Nguyên Việt Nam; tỉnh Attapư, Sê Kông thuộc khu vực phía Nam nước Lào; tỉnh Ratanakiri, Stưng Treng và Bôldôlkiri thuộc vùng Đông Bắc Campuchia. Các tỉnh trong Tam giác Phát triển có nhiều điểm tương đối giống nhau về các yếu tố tự nhiên, KTXH, nhiều tiềm năng đất đai, tài nguyên rừng, tài nguyên nước, có thể bổ sung cho nhau, hỗ trợ và liên kết cùng nhau phát triển. Chín tỉnh trong khu vực biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia là những tỉnh nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế, văn hóa khoa học kỹ thuật thấp kém, giao thông đi lại rất khó khăn nhất là các tỉnh của Lào và Campuchia, do vậy chưa tạo ra được cơ hội thu hút các nhà Đầu tư trong và ngoài nước.
Vị trí địa lý Tỉnh Đăk Lăk phía Bắc giáp với tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây Nam giáp tỉnh Đăk Nông, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, phía Tây giáp với Vương quốc Căm Pu Chia. Tỉnh Đăk Lăk bao gồm 01 thành phố Buôn Ma Thuột trực thuộc tỉnh, 01 thị xã Buôn Hồ và 13 huyện là EaHleo, Ea Sup, Krông Năng, Krông Buk, Buôn Đôn, Cư M’Gar, Ea Kar, M’Đrăk, Krông Păk, Krông Bông, Krông Ana, Lăk và Cư Kuin. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 13.125 km2, dân số (năm 2009) là 1. Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 132 người/km2 (2009).
Đăk Lăk có nhiều mạng giao thông nối liền tỉnh với các tỉnh trong vùng Tây Nguyên và vùng Duyên hải. Chạy xuyên suốt tỉnh theo chiều dài từ Bắc xuống Nam và nối liền với Gia Lai và Đăk Nông là quốc lộ 14; theo chiều Đông - Tây nối liền với Đà Lạt, Nha Trang (là hai trung tâm du lịch lớn) là quốc lộ 26 và 27. Đăk Lăk có sân bay Buôn Ma Thuột có các tuyến bay thẳng tới các thành phố lớn như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh và Tp Đà Nẵng cộng với tuyến đường Hồ Chí Minh đã xây dựng hoàn thành và đang nâng cấp. Mạng giao thông liên vùng là điều kiện cho Đăk Lăk mở rộng giao lưu với các tỉnh vùng Tây Nguyên và vùng Duyên hải miền Trung, tạo điều kiện thuận lợi để tỉnh Đăk Lăk phát triển kinh tế - xã hội.
Đặc điểm tự nhiên 1. Địa hình Địa hình của tỉnh Đắk Lăk khá phức tạp, có sự xen kẽ giữa các địa hình thung lũng, cao nguyên xen giữa núi cao và núi cao trung bình, có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc. Địa hình núi cao phân bố ở phía Nam, có độ cao từ 1.500 m, chiếm 35% diện tích toàn tỉnh. Dãy núi cao nhất là dãy Chư Yang Sin có ngọn cao nhất tới 2.
Vùng cao nguyên Buôn Ma Thuột có địa hình thấp hơn, nằm ở trung tâm tỉnh, độ cao trung bình 550 - Học viên: Kiều Văn Anh Trang 3 Luận Văn Thạc Sỹ Khoa Học Kỹ Thuật 750 m, chiếm 53,5% diện tích toàn tỉnh. Địa hình phần lớn đã được khai thác và đưa vào sản xuất trong nhiều năm nay, vùng địa hình thấp trũng chiếm 12% diện tích tự nhiên, xen kẽ giữa cao nguyên với các dãy núi cao tạo ra những cánh đồng tương đối bằng; độ cao trung bình 400 - 500 m. Địa chất Địa chất: Theo kết quả phân loại đất đã được công bố năm 1995 (FAO - UNESCO), đất Đăk Lăk được chia thành 11 nhóm đất chính là: + Nhóm đất phù sa (Fluvisols) có diện tích 15.037 ha chiếm 0,15% DTTN. + Nhóm đất Gley (Gleysols) có 30.005 ha chiếm 2,29% diện tích tự nhiên.
+ Nhóm đất than bùn (Histosols), diện tích 210 ha, chiếm 0,01% DTTN. + Nhóm đất đen (Luvisols) có 39.450 ha chiếm 3,10% DTTN. + Nhóm đất xám (Acrisols) có 593,8 nghìn ha, chiếm 45,6% DTTN. + Nhóm đất đỏ (Ferralson Basaltic soils) có 324,7 nghìn ha, chiếm 24,8% DTTN.
+ Nhóm đất nâu (Lixisols) có 149. + Nhóm đất nâu thẫm (Phaeozems) có 23.286 ha, chiếm 1,78% DTTN. + Nhóm đất có tầng sét chặt, cơ giới phân dị (Planols) ký hiệu (PL): diện tích 30,535 ha (chiếm 2,33% DTTN). + Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá (Leptosols) có 73 908 ha chiếm 5,65% DTTN.
+ Nhóm đất nứt nẻ (Vertisols) có diện tích 3.916 ha chiếm 0,3% DTTN. Khí hậu: Khí hậu tỉnh Đăk Lăk vừa mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng. Khí hậu có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10, tập trung 90% lượng mưa hàng năm.
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể. Nhiệt độ trung bình năm 22 - 230C, nhiệt độ cao nhất 350C, tháng nóng nhất là tháng 4. Nhiệt độ thấp nhất 140C, tháng lạnh nhất vào tháng 12. Tổng số giờ nắng trong năm trung bình 2.300 giờ, rất phù hợp với phát triển các cây trồng nhiệt đới lâu năm.
Lượng mưa cả năm bình quân toàn vùng là 1.000 mm, tổng lượng nước đến lãnh thổ Đăk Lăk 20,5 tỷ m3 [6], chuyển vào dòng chảy thuộc lưu vực sông Sêrêpok, sông Ba. Tháng mưa nhiều nhất vào tháng 10, 11 ở trung tâm cao nguyên Đăk Lăk tới 1.100 mm; mưa ít nhất vào tháng 1, 2. Lượng nước mùa lũ chiếm từ 70 - 80% lượng nước cả năm, tháng lớn nhất chiếm từ 20 - 29%, tháng kiệt nhất chiếm từ 2 – 2,5%. Độ ẩm không khí trung bình 83%.
Độ bốc hơi mùa khô 14,6 - 15,7 mm/ngày, mùa mưa 1,5 - 1,7 mm/ngày. Hướng gió thịnh hành mùa mưa là Tây Nam, mùa khô là Đông Bắc, tốc độ gió bình quân 2,4 -5,4 m/s, hầu như không có bão. Học viên: Kiều Văn Anh Trang 4 Luận Văn Thạc Sỹ Khoa Học Kỹ Thuật 1. Thủy văn: Hệ thống sông suối: Đăk Lăk có hệ thống sông suối khá phong phú, mật độ sông suối: 0,8 km/km2, nếu tính các con suối có chiều dài từ 10 km thì trên lãnh thổ Đăk Lăk có tới 833 suối.
Những vùng có lượng mưa lớn mật độ sông suối dày, những vùng có lượng mưa nhỏ mật độ sông suối thưa như: Ea Súp, EaHleo: 0,2 km/km2. Nước ngầm: Theo tài liệu nghiên cứu thăm dò, đánh giá nước dưới đất của Trung tâm nghiên cứu môi trường địa chất thuộc trường Đại học Mỏ - Địa chất và Trung tâm Tư vấn Công nghệ môi trường thuộc Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam cho ta thấy: nước dưới đất có trữ lượng và chất lượng tốt thường tồn tại trong các khe nứt trong các đá phun trào Bazan. Đặc biệt ở đây có hiện tượng mất nước (nước tầng trên chảy xuống tầng dưới). Trong các trầm tích bở rời Đệ tứ, trầm tích Neogen, trầm tích Jura có mức chứa nước từ nghèo đến trung bình, còn các tầng khác không đáng kể.
Chiều sâu nước thay đổi lớn, theo bề mặt địa hình và điều kiện thế nằm của tầng, chiều sâu mực nước biến đổi từ 4 - 57m ở Buôn Ma Thuột. Tình hình xây dựng công trình giao thông đường bộ 1. Hiện trạng giao thông khu vực 1. Mạng lưới giao thông đường bộ khu vực Mạng lưới giao thông khu vực trung bộ và Tây Nguyên cũng như trong cả nước nói chung tương đối phát triển, bao gồm: Đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, phân bố khá hợp lý tạo nên một hệ thống vận tải liên hoàn nhiều phương thức dọc theo suốt chiều dài đất nước.
Quy mô và chất lượng các tuyến đường đang được dần dần cải thiện, các tuyến ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên do hạn chế nguồn vốn đầu tư, địa hình nhiều đồi núi rộng lớn nên một số tuyến đường quy mô xây dựng còn thấp, chất lượng còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay. Nhìn chung từ Thanh Hoá đến tỉnh cực nam Trung Bộ do địa hình dài chạy dọc theo biển Đông, từ biển đến biên giới phía Tây chiều rộng không lớn nên các trục đường bộ đều chạy dọc như quốc lộ 1A ở phía Đông, về phía Tây có các trục dọc gần song song với quốc lộ 1A gồm quốc lộ 21, quốc lộ 15, quốc lộ 14 và 14C,. Nối giữa quốc lộ 1A ở phía Đông và các trục dọc về phía Tây (đường Hồ Chí Minh), có các quốc lộ như quốc lộ 49; quốc lộ 14B, 14D (nối cảng Đà Nẵng); quốc lộ 19 (nối cảng Quy Nhơn); quốc lộ 24 (nối cảng Dung Quất); quốc lộ 25, quốc lộ 26 (nối cảng Nha Trang), quốc lộ 27 (nối Tp.BMT với Tp.Đà Lạt) và quốc lộ 28. Các loại hình giao thông tỉnh Đắk Lắk Giao thông tỉnh Đắk Lắk hiện tại có hai loại: Đường bộ và đường hàng không.
Trong đó giao thông đường bộ giữ vai trò chủ đạo phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh; giao thông hàng không chủ yếu vận tải hành khách nội địa, nối với các trung tâm lớn trong nước như Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Vinh với tần suất bay còn hạn chế, máy bay khai thác chủ yếu loại nhỏ và trung bình. Học viên: Kiều Văn Anh Trang 5 Luận Văn Thạc Sỹ Khoa Học Kỹ Thuật Các loại hình giao thông khác như: đường sắt đang nghiên cứu đầu tư xây dựng tuyến Tp. Buôn Ma Thuột; đường thủy chủ yếu là tự phát phục vụ khai thác vật liệu (cát) và đi lại của người dân trong vùng vào mùa mưa lũ đường giao thông lầy lội. Mạng lưới đường bộ tỉnh ĐăkLăk: Đường Quốc lộ (QL): Toàn tỉnh có tổng số 4 tuyến đường quốc lộ (26, 27, 14 và 14C) với tổng chiều dài 397,5 km.
Quy mô thiết kế gồm: + Cấp thiết kế từ cấp III - IV (miền núi), tốc độ thiết kế 60 - 40km/h, 2 làn xe; Bnền= 7,5 10m, Bmặt= 5,5 7,5m; mặt đường láng nhựa (A2), bê tông nhựa (A1) và hệ thống các hạng mục công trình khác trên tuyến. + Đương cấp V miền núi (20km/h) (TCVN 4050-85), Bnền= 6,5 7,5 m, mặt đường cấp phối đồi có tiêu chuẩn hình học tương. Các công trình nhân tạo chưa có, chỉ sử dụng đường ngầm, cống tạm là chủ yếu, về mùa mưa xe đi lại khó khăn hoặc phải ngừng hoạt động. Đường phục vụ chủ yếu cho việc đi lại giữa các đồn biên phòng.