Chương 1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ĐƯỜNG VÀ GIAO THÔNG ĐÔ THỊ 7 11: Lịch sử phát triển của các đô thị và giao thông đô thị 1.2; Phân loại và phản cấp quản lý đô thị 1L 1.3) Một số vấn đề vẻ quy hoạch đô thị 13 Chương 2 VAI TRÒ CỦA HỆ THONG GIAO THONG VAN TAIDO THI 18 Vai trd của giao thông và phân loại giao thông đô thị er NNunNny Ý nghĩa của hệ thống vận tải hành khách trong các thành phố lớn 20 Phân loại hệ thống vận tải thành phố 23 Yee Các phương tiện vận tải hành khách thành phố 25 Phương pháp tính toán lượng hành khách và bố trí mạng lưới giao thông công cộng 34 Chương 3 MẠNG LƯỚI DUONG ĐÔ THI & LÝ THUYẾT DÒNG XE TRÊN ĐƯỜNG 37 3. Khái niệm chung về mạng lưới đường đô thị - 3. Các dang mạng lưới đường phố 39 33: Phân loại đường đô thị 46 3. Các dạng mặt cắt ngang đường phố 50 8.
Đường cao tốc thành phố 56 3. Một số vấn đề về thiết kế đường phố 58 3. Các đại lượng cơ bản của dòng xe 59 Chuong 4 NUT GIAO THONG & TO CHUC GIAO THONG TAI NUT 72 4. Khái niệm chung về nút giao thong - 4.
Nút Giao thông không bố trí đèn tín hiệu và khả năng thông qua T5 443. Nút giao thông điều khiển bằng đèn tín hiệu 84 4. “Tính toán điều khiển nút đơn với chu kỳ cố định 92 4. Điều khiển giao thông với chu kỳ thay đổi theo lưu lượng xe tại nút và điều khiển theo làn sóng xanh : 104 4.
Thiết kế nút giao thông cùng mức 108 4. Nút giao thông hình xuyến 115 4. Nút giao thông khác mức 123 Chương 5 TỔ CHỨC GIAO THÔNG TRONG ĐÔ THỊ 131 3. Mục đích của tổ chức giao thông ĐĐT&TCGT | 3 5.
Các biện pháp tổ chức giao thông, 131 53. 'Tổ chức các bến xe 133 5. 'Tổ chức đỗ xe 136 5. Điểm dừng xe buýt - Trung tâm giao thông công cộng 141 Chương 6 GIAO THÔNG VÀ MÔI TRƯỜNG 143 6.
Khái niệm chung 6. “Tiếng ồn do giao thông gây ra 6. Ảnh hưởng của giao thông tới không khí 147 6. Tai nạn giao thông đường bộ và các biện pháp hạn chế 149 Chương 7 THOÁT NƯỚC, CHIẾU SÁNG VÀ HỆ THỐNG KỸ THUẬT.
Thoát nước thành phố 7⁄2. “Thiết kế chiều đứng nút giao thông 161 1:5. Bố trí hệ thống kỹ thuật trên đường phố 166 1. Chiếu sáng đường phố 167 7.
"Trồng cây 171 Tài liệu tham khảo. 173 4 | ĐĐT&TCGT LOINOI DAU Môn học “Đường Đô Thị và Tổ Chức Giao Thông " là một môn học chuyên môn chính trong chương trình đào tạo kỹ sư xây dựng cầu đường của trường Đại học Giao Thông Vận Tải. Sau thời gian dài được giảng dạy với bài giảng, tác giả dã biên soạn thành giáo trình. Giáo trình này đã bám sát đề cương đã được phê duyệt, có sự tham khảo giáo trình của các tác giả trong và ngoài nước để cập nhật những kiến thức mới và phì hợp với các quy trình, quy phạm hiện hành.
Do vậy giáo trình này ngoài việc phục wụ cho xinh viên ngành Cầu Đường còn là tài liệu tham khảo cho các cán bộ kỹ thuật ngoài xản xuất. Tác giả chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của các đông nghiệp trong bộ món, Thạc sỹ Vũ Đình Hiền dã đọc kỹ giáo trình và cho những góp ý bổ ích trong việc hoàn thành bản thảo. Đây là lần đầu tập giáo trình được xuất bản chính thức, vì vậy chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót hoặc có những mặt chưa đáp ứng yêu cầu của người đọc. Tác giả rất mong được bạà đọc góp ý để lần xuất bản sau được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 26-9-2006 TÁC GIẢ ĐĐT&TCGT | 5 CHUONG I KHAI NIEM CHUNG VE DUONG VA GIAO THONG DO THI I. LICH SU PHAT TRIEN CUA CAC DO THI VA GIAO THONG DO THI I. QUA TRINH PHAT TRIEN CUA CAC DO THI TREN THE GIGI “Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, một thời gian dài nền kinh tế kém phát triển, con người sống phân tán, tự cung tự cấp. Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển con người dần dần sống tập trung lại, từ đó các đô thị được ra đời và phát triển.
Tiêu chí đánh giá một đô thị còn rất khác nhau, ở Mỹ một khu dân cư với số dân 2,5 nghìn người có thể coi là đô thị nhỏ, có nước coi đô thị phải có số dân từ 20 nghìn người trở lên. Cho tới nay chưa ai có thể nói rằng đô thị đầu tiên xuất hiện ở đâu và vào thời gian nào. Một số nhà sử học cho rằng đô thị cổ xuất hiện sớm nhất ở Iraq, Ấn Độ cách nay 5 ~7 nghìn năm. Nhưng đô thị lớn với số dân 1 triệu người là Roma ở La Mã cổ đại vào khoảng thế kỷ thứ năm, khi đó dân số Thế giới ước đoán khoảng 170 triệu người.
Đường chính 2. Cung điện chính S38 1009/m 4. Cung phía nam 5. Babylon nién dai 605-562 trước công nguyên.
„7` Các đô thị cổ ở châu Âu thường được bao quanh bởi các tường thành, trung tâm là nơi ở của vua cùng gia đình, nhà thờ và chợ. Ngày nay một số đô thị ta vẫn thấy các công trình hoặc dấu tích còn lại và chúng luôn được gìn giữ và bảo quản.1 là sơ đồ của đô thị cổ Babylon. Nói đến các đô thị phải nói kể tới các công trình xây dựng như lâu đài, nhà thờ, chùa chiền, nhà ở, đường xá, các công trình cấp thoát nước,. Đường phố có tuổi lâu năm nhất phải kể tới đường ở Pompeji, một đô thị của La Mã cổ đại (hình 1.
Trên ảnh ta thấy đường phố được xây dựng từ những phiến đá lớn có hè cho người đi bộ, hai bên có các cửa hàng như các phố buôn bán ngày nay. Đường ở Pomeji Tới thế kỷ 19 các đô thị, dân số còn ít, phương tiện giao thông chủ yếu là đi bộ, xe ngựa. Chỉ đến đầu thế kỷ 20 đặc biệt là sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất với sự phát triển của ôtô phạm vi đô thị được mở rộng, dân số tăng nhanh. Sự phát triển dan số của một số thành phố lớn trên thế giới chúng ta có thể tham khảo ở bảng 1.
Sự tăng dân số của một số đô thị trên thế giới Bảng 1.1 | Thành phố Dân số năm 1800 1850 1900 1950 1995 [NewYork | 79/000| 696000, 3,437,000 | 7892000| >10000,000 [London | 959,000] 2,362/000| 4,537,000 8,346,000 _ >10,000,000 | Pari | 547,000 | 1,053,000] 1,714,000] 1,275,000] _>10,000,000 [Moscow | 365,000 | 990,000] 2,888,000 _ >8,000,000 [ Tokyo | 800,000 1,819,000 | 6,280,000 |_ >10,000,000 8 | ĐĐT&TCGT Ngày nay, theo thống kê của Liên hợp quốc, số dân sống trong các đô thi chiếm 47% dân số thế giới, có 411 đô thị lớn với số dân hơn I triệu, có 40 đô thị 5 triệu dân và 10 đô thị với số dân vượt qua con số 10 triệu. Theo thống kê năm 2001, thành phố lớn nhất là Tokyo 26,5 triệu, San Paolo 18,3 triệu, Mexico City 18,3 triệu, New Yorkl6,8 triệu, Bom bay 16,5 triệu. Trung Quốc là nước có nhiều thành phố số dân lớn hơn 10 triệu: Bắc Kinh, Thượng Hải, Thành Đô. Các đô thị ngày nay với các toà nhà nhiều tầng, hệ thống giao thông có các đường ôtô cao tốc, tầu điện ngầm, tầu trên cao và các bãi đỗ xe ngầm hoặc nổi hiện đại có sức chứa hàng ngàn xe.
Việc quy hoạch xây dựng và cải tạo các đô thị lớn đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao và vốn đầu tư rất lớn. Quá trình phát triển của các đô thị và giao thông đô thị trên thế giới được phân chia thành các giai đoạn sau: a. Giai đoan 1; Các đô thị cổ (trước năm 1850), giai đoạn này các đô thị có quy mô nhỏ, tốc độ phát triển chậm về mọi mặt. Giao thông chủ yếu là đi bộ, các phương tiện thô sơ chủ yếu là dùng sức ngựa.
Giai đoạn 2: Các đô thị cũ (1850 - 1890), đây là thời kỳ các đô thị có quy mô trung bình và tốc độ phát triển nhanh do công nghiệp hoá. Phương tiện vận tải đã có đường sắt với ngựa kéo, sau đó là đầu máy hơi nước và đến cuối thế kỷ thứ 19 bất đầu sử dụng các phương tiện giao thông chạy bằng điện. Các đô thị thường mở rộng theo hướng phát triển của đường sắt và đường tàu điện vì nó thuận tiện cho việc đi lại của dân cư. Đã xuất hiện các đô thị lớn như London nam 1861 với 2,36 triệu người, Pari năm 1861 là 1.69 triệu dân, phạm vi đô thị đạt từ 10-20 km, cá biệt có đô thị tới 30 km.
Giai đoạn 3: Các đô thị mới (1890 - 1925). Đặc điểm của giai đoạn này là sự phát triển nhanh các phương tiện giao thông công cộng đặc biệt là tàu điện. Mốc quan trọng là sự ra đời và phát triển của ôtô. Giai đoan 4: Các đô thị hiện đại (từ năm 1925 đến nay), giai đoạn này các đô thị phát triển nhanh chóng với các đặc điểm sau: - Pham vi hoạt động của giao thông vận tải đô thị được phát triển nhanh do đó quy mô đô thị mở rong và xuất hiện các đô thị vệ tỉnh.
Người dân có ôtô riêng nên hướng phát triển của đô thị không còn lệ thuộc vào hướng của đường sắt như trước đây. Nhu cầu phát triển của các phương tiện giao thông và nhu cầu đi lại tăng nhanh hơn sự phát triển của hệ thống đường gây nên sự căng thẳng giao thông và dẫn tới ùn tắc trên các đường phốở một số đô thị lớn. -_ Sự xung đột giữa phương tiện giao thông công cộng và phương tiện giao thông cá nhân, giữa các phương thức vận tải diễn ra gay gắt, vì vậy đòi hỏi chính phủ mỗi nước phải tìm ra các biện pháp để điều tiết giao thông trong các đô thị của mình. ~ - Có đô thị coi việc phát triển của phương tiện này là chủ yếu nhưng có đô thị lại coi phương tiện đó là không hợp lý cho đô thị của mình, không có hình mẫu chung về các phương tiện vận tải.
Nhưng xu thế chung là hướng tới phương tiện hiện đại, đảm bảo đi lại thuận lợi cho nhân dân và ít gây ô nhiễm môi trường.