Chương 1 – Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2 - Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu Chương 4 - Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5 - Kết luận và hàm ý quản trị 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết về dịch vụ ngân hàng số 2.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng số Các dịch vụ ngân hàng số ngày nay thường được sử dụng thay thế cho ngân hàng di động hoặc ngân hàng trực tuyến, nên rất khó phân biệt chúng với các dịch vụ kỹ thuật số do ngân hàng truyền thống cung cấp. Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản là sự tồn tại của các chi nhánh vật lý nơi các ngân hàng số chỉ dựa vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật số để thực hiện tất cả các loại giao dịch. Nếu như E-Banking chỉ tạo thêm tiện lợi bổ sung so với các ngân hàng truyền thống cho khách hàng với các dịch vụ như SMS Banking, Mobile Banking.
Ngân hàng số thì ngân hàng số phục vụ khách hàng như một ngân hàng đích thực với toàn bộ cấu trúc hệ thống và cơ cấu tổ chức đã được đổi mới, cung cấp tất cả các dịch vụ, sản phẩm kinh doanh dựa trên sự số hóa, cho phép khách hàng thực hiện mọi giao dịch trên website hoặc thiết bị di động. Dịch vụ ngân hàng số không có văn phòng truyền thống, cũng không có giao dịch viên trực tiếp, dịch vụ khách hàng và các hoạt động kinh doanh hoàn toàn tự động (Fathima, 2020; Sha & Mohammed, 2017). Do đó, dịch vụ ngân hàng số có thể giúp các ngân hàng cắt giảm chi phí dịch vụ, gia tăng thu nhập phi lãi. Nghiên cứu về các dịch vụ tài chính và ngân hàng cho thấy rằng số hóa và sự chấp nhận của khách hàng đối với các dịch vụ đã được hình thành và phát triển trong nhiều thập kỷ, chẳng hạn như thông qua các máy giao dịch tự động, ngân hàng di động và ngân hàng trực tuyến (Kaushik & Rahman, 2015).
Tại Indonesia, ngân hàng số được định nghĩa là ngân hàng cung cấp và thực hiện các hoạt động thông qua các kênh điện tử; có trụ sở chính mà không có bất kỳ hoặc văn phòng nào (Otoritas, 2021). Chính phủ Hồng Kông cũng có định nghĩa tương tự về ngân hàng số như Indonesia, là ngân hàng chủ yếu cung cấp dịch vụ ngân hàng bán lẻ thông qua Internet hoặc các hình thức kênh điện tử khác thay vì các chi nhánh thực (Hong Kong Monetary Authority, 2021). Ngân hàng số là các ứng dụng Fintech mang tính cách mạng vượt ra khỏi các quy chuẩn ngân hàng thông thường, hoàn toàn không cần giấy tờ, không cần chữ ký và không có chi nhánh. Do đó, ngân hàng số thay đổi toàn cảnh hệ sinh thái tài chính và cách thức hoạt động của các doanh nghiệp, giúp cải thiện hiệu quả tài chính đồng thời đối mặt với những thách thức về bảo mật và quyền riêng tư (Dharamshi, 2019).
6 Nhìn chung, các ngân hàng ngày nay tập trung vào việc duy trì lòng trung thành của khách hàng thông qua các dịch vụ chất lượng, bán chéo và các mối quan hệ lâu dài thông qua các mối quan hệ cá nhân, dẫn đến việc người tiêu dùng lựa chọn sử dụng (Reichheld, 2003). Chiến lược này đã được thay đổi do chất lượng của dịch vụ ngân hàng kỹ thuật số (Saleem và cộng sự, 2016), nơi liên hệ cá nhân giữa ngân hàng và khách hàng không còn diễn ra nữa, đòi hỏi một khuôn khổ khác. Dịch vụ ngân hàng kỹ thuật số ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của các ngân hàng phụ thuộc vào nhận thức và kỳ vọng của khách hàng về chất lượng và giao diện dịch vụ, do đó khái niệm của nó phải bao gồm công nghệ và khuôn khổ các dịch vụ. Theo Tomiuk và Pinsonneault (2001) trong dịch vụ ngân hàng truyền thống, lòng trung thành được có thể được tạo ra dựa trên sự tiếp xúc và tương tác cá nhân trong quá trình cung cấp dịch vụ, thì đối với dịch vụ ngân hàng số, lòng trung thành của khách hàng đạt được dựa trên hiệu quả và độ tin cậy của dịch vụ số hóa.
Ngân hàng kỹ thuật số làm giảm sự tương tác trực tiếp giữa khách hàng và nhân viên ngân hàng và khác với các dịch vụ khác. Do đó, cần có một khung lý thuyết đa dạng để xác định chắc chắn tác động của ngân hàng kỹ thuật số đối với trải nghiệm khách hàng. Khái niệm nhận thức về dịch vụ ngân hàng số Theo quan điểm triết học Mác-Lênin “nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người” (Phạm Văn Đức, 2019). Trong từ điển Bách khoa Việt Nam “nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể”.
Từ điển Tiếng Việt có ghi “nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy; quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan, hoặc kết quả của quá trình đó” (Hoàng Phê, 2019). Trong khoa học nhận thức, nhận thức được coi là quá trình xử lí thông tin của tâm trí của bộ não người tham gia hay người điều hành. Nhận thức trong tâm lí học thường đề cập đến việc các chức năng tâm lí của một cá nhân xử lí thông tin (Bernd 7 Meier, 2011). Như vậy các khái niệm đều chỉ ra nhận thức là quá trình xử lí xảy ra trong bộ não để con người nâng cao hiểu biết của bản thân về thế giới.
Trong bối cảnh trải nghiệm dịch vụ của khách hàng, nhận thức được hiểu là quá trình tiếp nhận, mã hoá và xử lí thông tin trong tâm trí khách hàng khi tham gia quá trình trải nghiệm dịch vụ, thông qua đó xây dựng hiểu biết cho bản thân về dịch vụ đó. Thói quen thay đổi của người tiêu dùng và môi trường cạnh tranh mới đang buộc công nghệ phải thay đổi hàng ngày để tồn tại trên thị trường với lợi nhuận hợp lý. Ngành ngân hàng cũng trở thành một phần của cuộc đua khi giải quyết quá trình số hóa là một vấn đề cấp bách. Lĩnh vực này cũng không muốn bị tụt hậu trong một thị trường mà nó đang có đầy đủ các hình thức chuyển đổi.
Nhìn chung, các ngân hàng không được coi là động lực nhanh nhưng với sự cạnh tranh ngày càng tăng trong ngành; các NHTM, đặc biệt là các ngân hàng khu vực tư nhân, đã khởi xướng các nền tảng của dịch vụ ngân hàng số. Các ngân hàng khác nhau đang ứng phó với thách thức kỹ thuật số này bằng cách sử dụng các cách tiếp cận khác nhau và với tốc độ khác nhau. NHTM đã giới thiệu nhiều phương pháp đổi mới khác nhau để thực hiện giao dịch ngân hàng chỉ với các thao tác và thủ tục đơn giản. Tuy nhiên, để sử dụng được dịch vụ này, khách hàng cần phải được trang bị một lượng kiến thức nhất định về khả năng am hiểu các giao dịch, đánh giá các thông tin, áp dụng các chỉ dẫn, cũng như năng lực ứng dụng công nghệ.
Chẳng hạn, khách hàng không cần phải đến chi nhánh ngân hàng để biết những thông tin như biết số dư tài khoản, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn hay tìm lời khuyên để đầu tư. Thay vào đó, họ phải có khả năng truy cập và tự xử lí các giao dịch này thông qua phần mềm được ngân hàng trang bị qua điện thoại, ngân hàng trực tuyến. Các máy ATM cũng đã được lắp đặt ở những khu vực xa xôi mà trước đây hầu như không có các cơ sở ngân hàng. Cùng với sự ra đời của các thẻ thông minh như thẻ ghi nợ hoặc thẻ tín dụng, việc nạp tiền và thanh toán hóa đơn dễ dàng trong khi ngồi thoải mái như ở nhà và một số ưu đãi và chiết khấu tốt hơn được cung cấp cho khách hàng như một phần của các tiện ích ngân hàng số.
Những điều này làm tăng mức độ cảm nhận tích cực do tăng tiện ích ngân hàng trong điều kiện khách hàng có nhận thức tối thiểu về khả năng sử dụng và đánh giá dịch vụ. 8 Nhận thức là thiên hướng để hiểu thấu đáo về một trải nghiệm (DeBacker & cộng sự, 2008). Các nghiên cứu trước đây đã tìm thấy sự ảnh hưởng điều tiết của nhận thức lên hành vi phản ứng với một tình huống xã hội cụ thể (Wang Ze & cộng sự, 2017; Van Kleef & cộng sự, 2009). Cụ thể, các cá nhân có nhận thức cao có nhiều khả năng có hành vi dựa vào đánh giá nhận thức của họ và giảm các phản ứng cảm tính là không liên quan (Wang & cộng sự, 2017; Greifeneder & cộng sự, 2011).
Khi một người nào đó tập trung tìm kiếm hoặc phỏng đoán thông tin thì lúc đó nhận thức của họ là cao (Kruglanski & Webster, 1996). Theo lịch sử, lý thuyết hóa trong các ngành khoa học xã hội khác nhau cho rằng các phán đoán chỉ dựa trên thông tin nội dung. Các khách hàng khi sử dụng dịch vụ được giả định để hình thành các phán đoán bằng cách đánh giá một cách có hệ thống tất cả thông tin nội dung có sẵn và thích hợp về dịch vụ theo cách không thiên vị. Các trải nghiệm về dịch vụ có thể được hình thành không chỉ trên cơ sở thông tin nội dung mà còn trên cơ sở cảm xúc, chẳng hạn như tâm trạng tích cực hoặc tiêu cực, có cảm giác tích cực hoặc tiêu cực đối với mục tiêu, cảm thấy dễ dàng hoặc khó khăn khi nhớ lại một số thông tin từ bộ.
Do đó, nhận thức có thể tạo ra những ảnh hưởng mạnh mẽ đến các trải nghiệm. Lý thuyết trải nghiệm khách hàng 2. Khái niệm trải nghiệm khách hàng Trải nghiệm khách hàng được định nghĩa là sự đánh giá, nhận thức và tình cảm của khách hàng về tất cả các cuộc gặp gỡ trực tiếp và gián tiếp với doanh nghiệp liên quan đến hành vi mua hàng của họ (Klaus & Maklan, 2013). Trải nghiệm ngân hàng số bao gồm chất lượng dịch vụ, chất lượng chức năng, giá trị cảm nhận, khả năng tùy chỉnh dịch vụ, tốc độ dịch vụ, mức độ tương tác giữa nhân viên và khách hàng, sự tin tưởng thương hiệu, đổi mới ngân hàng số, khả năng sử dụng được cảm nhận và rủi ro được nhận thức (Mbama & Esepue, 2018).
Đặc biệt, có một số khác biệt trong việc trải nghiệm dịch vụ kỹ thuật số đối với khách hàng trẻ tuổi.