CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu vấn đề Trong tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay, phần đông dân số là tầng lớp người lao động có thu nhập trung bình thấp, việc chi tiêu cho sinh hoạt cuộc sống gặp nhiều khó khăn. Với đồng lương thấp, hàng tháng họ chỉ có thể tiết kiệm được một khoản nhỏ, số tiền nhỏ bé này thường không đủ để mua những vật dụng tiện nghi cần thiết cho gia đình khi mà vật giá mỗi ngày một tăng cao hay những khi đau bệnh xảy ra. Do đó, họ thường phải đi vay mượn, dẫn đến những phát sinh lãi suất không cần thiết. Thấy được những khó khăn đó, với mô hình kinh doanh sáng tạo, công ty tài chính X đã được hình thành ở Việt Nam, cùng những mong muốn đóng góp có ích cho xã hội, đặc biệt là đối với tầng lớp người dân có thu nhập thấp.
Thông qua hình thức cấp tín dụng cho người lao động đang làm việc tại các xí nghiệp nhà máy, công ty X đã giúp cho người lao động có thể mua những vật dụng gia đình cần thiết hay tạm ứng tiền để gửi về quê…, khi mà tiền lương tháng của họ không có sẵn. Công ty còn đem lại những lợi ích khác như mua hàng trả góp 0% lãi suất trong khi giá cả mặt hàng ngang bằng so với thị trường, dịch vụ chăm sóc khách hàng và hậu mãi chu đáo, vận chuyển hàng hóa tiện lợi, kích thích thị trường tiêu dùng, tạo việc làm. Mô hình hoạt động của công ty X đã mang đến nhiều ý nghĩa thiết thực cho người lao động và xã hội. Với hoạt động kinh doanh phức tạp, việc quản lý dòng tiền của công ty X là vấn đề khó khăn được đặt ra.
Để có thể kiểm soát tốt dòng tiền, công ty đang cần một hệ thống có khả năng dự báo trước về điều đó một cách hiệu quả. Dòng tiền ra, vào của công ty bao gồm nhiều danh mục nhỏ khác nhau. Xét trên dòng tiền chi ra có thể chia làm các loại chính sau: Suppliers – Tiền chi trả nhà cung cấp (NCC) từ việc công ty đặt mua hàng hóa để bán lại cho người lao động. Topup/Airline – Tiền chi trả cho các nhà mạng, hãng hàng không, nhà xe từ việc công ty mua/đặt vé và bán lại cho khách hàng.
Nguyễn Phúc Ánh 1 Dự báo dòng tiền ra cho hoạt động mua hàng bằng tiền vay tín dụng CashAdvance – Lượng tiền chuẩn bị sẵn, phục vụ cho hoạt động tạm ứng tiền của khách hàng. Withdraw/TransferEwallet – Lượng tiền chuẩn bị sẵn, phục vụ cho hoạt động chuyển tiền của khách hàng. OperatingExpenses – Chi phí cho các hoạt động bên trong công ty như hoạt động quảng cáo, điện…. BankLoanRepayment – Tiền phải trả các khoản vay ngân hàng của công ty.
Salary – Tiền chi trả lương cho nhân viên. Trong các khoản chi trên, dòng tiền ra từ các hoạt động Topup/Airline, CashAdvance, Withdraw/TransferEwallet hiện tại thưa và chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng dòng tiền ra. Đối với các mục OperatingExpenses, BankLoanRepayment, Salary lượng tiền chi trả cho các hoạt động này hiện tại được công ty kiểm soát tốt vì tính ổn định và có thể biết trước. Cuối cùng, lượng tiền chi cho khoản mục Suppliers là vấn đề chúng tôi cần giải quyết bởi vì dòng tiền ra cho hoạt động này chiếm tỉ lệ lớn, việc dự đoán trước gặp nhiều khó khăn vì chịu ảnh hưởng bởi nhu cầu đặt mua của khách hàng trong tương lai và những kỳ hạn thanh toán khác nhau được đặt ra bởi những NCC áp đặt lên công ty.
Với mô hình hoạt động sáng tạo, công nhân viên (khách hàng) làm việc tại các xí nghiệp nhà máy có ký kết hợp đồng sử dụng chương trình phúc lợi của công ty X, họ được công ty X cấp một khoản tín dụng. Với khoản tín dụng được cấp này, họ chỉ được phép sử dụng để mua các sản phẩm do công ty X cung cấp. Điều đặc biệt trong kinh doanh bán sản phẩm ở công ty là công ty không có sẵn các sản phẩm, mà thông qua các đơn đặt hàng của khách hàng, cùng với chuỗi cung ứng mạnh mẽ của hơn 170 NCC, công ty phải chi tiền trước mua sản phẩm từ NCC và bán lại cho khách hàng theo hình thức trả góp 0% lãi suất. Điều này cho thấy rằng, khi khách hàng đặt mua một lượng lớn trong tương lai, công ty X sẽ phải chi trả một lượng lớn tương ứng cho NCC vào thời điểm đó.
Nếu việc dự báo không được thực hiện sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng như không đáp ứng nhu cầu hàng hóa cho khách hàng, thiếu hụt vốn, phạt lãi suất ngân hàng do thanh toán chậm…. Nguyễn Phúc Ánh 2 Dự báo dòng tiền ra cho hoạt động mua hàng bằng tiền vay tín dụng Bài toán đặt ra là dự báo số tiền sẽ chi trả cho NCC ở thời điểm tương lai từ hoạt động mua hàng. Lượng tiền chi của công ty X trong hoạt động này phụ thuộc vào lượng hàng hóa mà khách hàng đặt mua trong tương lai và thời gian thanh toán mà NCC yêu cầu công ty phải trả. Việc dự báo dòng tiền ra trên khoản mục Suppliers đóng góp đáng kể trong việc quản lý toàn bộ dòng tiền hoạt động, giúp cho công ty được điều hành tốt hơn, đem lại sự phát triển ổn định.2 Mục tiêu đề tài Nhiều công trình liên quan đến dự báo dòng tiền đã được thực hiện.
Tuy nhiên, với đặc thù đề tài được xuất phát từ miền nghiệp vụ cụ thể của một công ty ở Việt Nam, có mô hình kinh doanh như đã giới thiệu. Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đã thực hiện giải quyết vấn đề tương tự. Mặt khác, đề tài này là một đề tài mang ý nghĩa thực tế, vì nó đóng góp vào hoạt động dự báo dòng tiền của một công ty tài chính ở Việt Nam. Với những lý do trên là động cơ để chúng tôi thực hiện đề tài này.
Mục tiêu của đề tài là dự báo dòng tiền ra cho hoạt động mua hàng của công ty X. Số tiền được dự báo giúp cho công ty luôn chủ động trong việc chi trả, chủ động lượng tiền mặt có sẵn, tránh phải vay mượn ngân hàng những khoản dư thừa, làm phát sinh lãi suất không cần thiết. Từ đó, giúp công ty hoạt động hiệu quả. Các công việc được thực hiện trong đề tài: Tìm hiểu nghiệp vụ chi tiền mua hàng của công ty.
Đưa ra giải pháp để dự báo dòng tiền ra cho hoạt động mua hàng. Thu thập và xử lý dữ liệu. Xây dựng mô hình dự báo. Thực nghiệm, cải tiến và đánh giá kết quả.
Khi khảo sát nghiệp vụ ở công ty, chúng tôi thấy rằng các đơn đặt hàng của khách hàng được công ty X xử lý ngay khi có trên hệ thống. Điều này phản ánh thật sự doanh số bán cũng như lượng tiền mà công ty sẽ phải chi trả cho NCC. Do đó, giả định được đặt ra là không có sự tác động của công ty X đến việc xử lý chậm trễ các đơn hàng của khách hàng và chúng tôi chỉ xét trên số tiền đã chi trả cho NCC, tức là Nguyễn Phúc Ánh 3 Dự báo dòng tiền ra cho hoạt động mua hàng bằng tiền vay tín dụng trường hợp khi sản phẩm được công ty đặt mua và đã chi trả tiền cho NCC nhưng chưa chuyển đến khách hàng, vì một lý do nào đó, khách hàng hủy đặt mua sản phẩm này. Sau đó sản phẩm có thể được chuyển về NCC và hoàn tiền lại cho công ty.
Bên cạnh đó, do có nhiều loại NCC khác nhau và chúng tôi đã đưa ra giả định là xem xét tất cả NCC như một loại duy nhất (chi tiết ở mục 4. Mặc dù đề tài này mang tính chất đặc thù riêng, nhưng bản chất nó xuất phát từ những vấn đề về doanh số sản phẩm hay nhu cầu tiêu dùng. Do đó, một số công trình liên quan sau đây cho thấy những phương pháp được dùng để dự báo và có thể tham khảo để giải quyết bài toán.3 Cấu trúc của luận văn Các phần còn lại của luận văn bao gồm: Chương 2 chúng tôi giới thiệu về các công trình liên quan: những công trình dự báo doanh số sản phẩm, dự báo trên dữ liệu chuỗi thời gian với nhiều cách tiếp cận khác nhau như các mô hình toán học, các phương pháp học máy và sự lại ghép giữa các phương pháp. Chương 3 bao gồm các lý thuyết về chuỗi dữ liệu thời gian, các giải thuật gom cụm, các phương pháp học máy tổ hợp, các độ đo sự tương tự và cuối cùng là hai độ đo để đánh giá kết quả dự báo.
Chương 4 chúng tôi đề xuất các mô hình với cách tiếp cận khác nhau để dự báo dòng tiền chi. Chương 5 là phần thí nghiệm và đánh giá kết quả dự báo từ các mô hình. Chương 6 là tổng kết sau khi thực hiện đề tài. Nguyễn Phúc Ánh 4 Dự báo dòng tiền ra cho hoạt động mua hàng bằng tiền vay tín dụng CHƯƠNG 2: CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN Trong lĩnh vực kinh tế tài chính, để các tổ chức sản xuất, siêu thị, nhà máy hoạt động hiệu quả, việc dự báo nhu cầu hay dự báo doanh số bán hàng đóng vai trò quan trọng vào quá trình ra quyết định của nhà quản lý.
Nhiều công trình nghiên cứu với nhiều phương pháp khác nhau đã được thực hiện trên thế giới, Chang et al [5] đã nêu ra những phương pháp truyền thống được dùng trong dự báo doanh số bán hàng như: Phương pháp định tính (Qualitative method) là phương pháp chuyển đổi dữ liệu từ định tính sang định lượng dựa trên những ý kiến mang tính chủ quan. Những phương pháp như Delphi, Market Research, Historical Analogy…. Phân tích chuỗi dữ liệu thời gian (Time series analysis): là phương pháp dự báo dữ liệu trong tương lai bằng dữ liệu đã xảy ra trong quá khứ. Một số mô hình nổi tiếng: Moving Average, Exponential Smoothing, Box-Jenkins….
Phân tích nhân-quả: là phương pháp nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa các mặt hàng được dự đoán. Phương pháp này yêu cầu dữ liệu quá khứ phải có đủ thông tin để phân tích, giải thích mối quan hệ. Những mô hình phổ biến: Regression analysis and Econometric Model…. “Dù những phương pháp truyền thống đã được chứng minh hiệu quả, cho kết quả cao trên dữ liệu có tính mùa và xu hướng, nhưng nó không thích hợp cho những tình huống dữ liệu bất thường.