CHƯƠNG 1 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT NHTM 1. Hoạt động giám sát NHTM 1. Khái niệm Thuật ngữ giám sát ngân hàng theo nghĩa rộng, được hiểu là tất cả các hoạt động nhằm bảo đảm cho sự an toàn và lành mạnh của hệ thống các tổ chức tài chính, bao gồm: định chế, cấp phép, giám sát từ xa, thanh tra tại chỗ và cưỡng chế thực thi các hành động chỉnh sửa kịp thời (thực hiện các quyền năng thanh tra giám sát). Trong một số trường hợp, thuật ngữ này cũng bao hàm cả các hoạt động như: thu thập và xử lý thông tin tín dụng, đánh giá và xếp hạng TCTD, bảo hiểm tiền gửi, bảo vệ người sử dụng dịch vụ tài chính ngân hàng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, … Tổ chức giám sát ngân hàng thông thường phải đảm đương 4 nhóm nhiệm vụ chính sau: (i) Định chế và sàng lọc đăng ký (Regulation and policy); (ii) Giám sát cẩn trọng vi mô (Micro-prudential supervision); (iii) Giám sát cẩn trọng vĩ mô (Macro-prudential supervision): Phân tích tác động và lợi ích - chi phí của các cơ chế, chính sách quản lý hiện hành hoặc đang được đề xuất ban hành; Phân tích, dự báo khuynh hướng phát triển của hệ thống NH và hệ thống tài chính, cả trong nước, khu vực và quốc tế; Quản lý rủi ro hệ thống; (iv) Phát triển hoạt động ngân hàng (Banking development), bao gồm cả việc bảo vệ khách hàng sử dụng dịch vụ tài chính – ngân hàng.
[4] “Giám sát ngân hàng là hoạt động của NHNN Việt Nam trong việc thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin về đối tượng GSNH thông qua hệ thống thông tin, báo cáo nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, vi phạm quy định an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan.” [16] 7 “Thanh tra ngân hàng là hoạt động thanh tra của NHNN Việt Nam đối với các đối tượng thanh tra ngân hàng trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng.” [16] Từ các nhận định trên có thể thấy thuật ngữ giám sát ngân hàng quy định tại Luật NHNN Việt Nam năm 2010 bó hẹp trong hoạt động giám sát từ xa (off – site), không bao gồm hoạt động thanh tra tại chỗ (on – site), hoạt động cấp phép và việc ban hành các văn bản pháp luật quy định về an toàn của ngân hàng. Tóm lại: Theo nghĩa rộng, giám sát ngân hàng là hoạt động của cơ quan Nhà nước có chức năng thực hiện GSNH nhằm bảo bảo đảm cho sự an toàn và lành mạnh của hệ thống các tổ chức tài chính, bao gồm: định chế, cấp phép, giám sát từ xa, thanh tra tại chỗ đối với các TCTD và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác. Theo nghĩa hẹp, giám sát ngân hàng có thể chỉ được hiểu là hoạt động giám sát từ xa của cơ quan Nhà nước có chức năng thực hiện giám sát, nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, vi phạm quy định an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Mục đích của hoạt động giám sát NHTM Mặc dù với mô hình tổ chức hoạt động giám sát không thống nhất giữa các quốc gia nhưng hoạt động giám sát ngân hàng nhìn chung đều có cùng mục đích: Thứ nhất, hoạt động giám sát ngân hàng nhằm đảm bảo sự an toàn và lành mạnh, tránh sự đổ vỡ của hệ thống ngân hàng.
Thông qua hoạt động giám sát hoạt động của các NHTM, cơ quan giám sát phát hiện, đánh giá được những rủi ro, vi phạm trong hoạt động ngân hàng từ đó đưa ra những cảnh bảo, quy định về giới hạn, tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng; khuyến nghị, yêu cầu ngân hàng thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro, xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng từ đó đảm bảo hoạt động của các ngân hàng an toàn, lành mạnh Thứ hai, thông qua hoạt động giám sát, Cơ quan giám sát ngân hàng duy trì sự ổn định và lòng tin của các bên đối với hệ thống tài chính, nhờ đó giảm được rủi ro cho bên gửi tiền và các bên cho vay khác. Đặc trưng của hoạt động giám sát NHTM 1. Gắn liền với quản lý Nhà nước Chu trình quản lý Nhà nước từ ban hành chính sách, văn bản pháp luật đến việc thực hiện các quy định của pháp luật và tiến hành kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện. Cũng như các hoạt động giám sát khác, với tư cách là chức năng, là giai đoạn của chu trình quản lý Nhà nước, hoạt động giám sát ngân hàng gắn liền với quản lý Nhà nước.
Hoạt động giám sát ngân hàng được thực hiện bởi Cơ quan Nhà nước có chức năng và thẩm quyền thực hiện giám sát, có thể là Ngân hàng trung ương, Bộ Tài chính hoặc Cơ quan giám sát chuyên biệt. Cơ quan giám sát ngân hàng giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật của các NHTM là thực hiện một khâu trong chu trình quản lý Nhà nước. Mang tính quyền lực Nhà nước Chức năng, quyền hạn của Cơ quan giám sát ngân hàng được quy định tại các văn bản pháp luật. Khi thực hiện hoạt động giám sát, Cơ quan giám sát ngân hàng nhân danh quyền lực Nhà nước có quyền bắt buộc NHTM thực hiện báo cáo tình hình hoạt động của đơn vị mình.
Qua kết quả giám sát, khi phát hiện sai sót, gian lận hoặc vi phạm pháp luật về hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật, Cơ quan giám sát ngân hàng có quyền xử phạt vi phạm, yêu cầu ngân hàng thực hiện các biện pháp chỉnh sửa hoặc chuyển cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật. Thường xuyên, liên tục Diễn biến nền kinh tế ở mỗi quốc gia cũng như toàn cầu liên tục thay đổi, theo đó hệ thống ngân hàng năng động và phát triển không ngừng để đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế. Các dịch vụ ngân hàng mới hình thành có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro có thể tạo ra những cú sốc đối với hệ thống ngân hàng, tài chính, dẫn chứng cụ thể là dịch vụ cho vay dưới chuẩn bắt nguồn từ Mỹ không những dẫn tới sự sụp đổ của hàng loạt ngân hàng lớn tại nước này mà còn gây ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Hơn nữa, với sự phát triển của kinh tế - tài chính trong nền kinh tế thị trường, những biến động tài chính xảy ra nhiều hơn, với quy mô 9 ngày càng lớn hơn, phức tạp và khó dự đoán hơn.
Do đó, để có thể kịp thời phát hiện những rủi ro trong hoạt động của các NHTM cũng như rủi ro trong hệ thống ngân hàng tài chính, hoạt động GSNH phải được thực hiện thường xuyên, liên tục. Sự cần thiết phải đổi mới hoạt động giám sát NHTM Bên cạnh những hạn chế trong nội tại cơ quan giám sát ngân hàng, những yếu tố từ bên ngoài tác động đến hoạt động giám sát ngân hàng dẫn tới việc đổi mới hoạt động giám sát ngân hàng là tất yếu. Thứ nhất, sự phát triển của khu vực tài chính nói chung và ngân hàng nói riêng với hàng loạt các loại hình dịch vụ hiện đại đi kèm với nhiều rủi ro. Sự ra đời của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đa tiện ích như ATM, Internet Banking, Home Banking, PC Banking, Mobile Banking, Visa.
là những bước tiến bộ đáng kể của các NHTM Việt Nam trong việc ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thông hiện đại. Tuy nhiên, bên cạnh những tiện ích mà các dịch vụ đã mang lại, điều không thể phủ nhận được là các rủi ro đi kèm lớn hơn. Bên cạnh những rủi ro về tác nghiệp và công nghệ theo sau các dịch vụ thương mại điện tử (nạn hacker đối với phần mềm ngân hàng, dịch vụ ngân hàng ảo, vấn đề về bảo mật thông tin,.) còn có các rủi ro tiềm ẩn hết sức lo ngại đối với một hệ thống quản trị, điều hành còn yếu như ở Việt Nam. Chỉ đơn thuần phương pháp thanh tra tuân thủ thị khả năng ngăn chặn, đặc biệt là phòng ngừa rủi ro hữu hiệu khó có thể đáp ứng được.
Thứ hai, môi trường hoạt động của hệ thống ngân hàng hiện nay tiềm ẩn nhiều rủi ro. Với tính chất phức tạp và thường xuyên biến động của nền kinh tế thị trường, mở cửa nền kinh tế, những biến động bất thường về kinh tế, chính trị của thế giới đểu tác động không nhỏ tới nền kinh tế của mỗi nước, trong đó có Việt Nam. Đó cũng là một trong những nguyên nhân tạo nguy cơ rủi ro cho các NHTM. Các ngân hàng luôn phải đối mặt với những rủi ro tiềm ẩn như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động.
Trong đó rủi ro tín dụng là điều đặc biệt quan tâm hiện nay đối với hệ thống NHTM Việt Nam. Với tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh trong những năm qua cùng với năng lực quản trị rủi ro yếu kém trong môi trường kinh doanh nhiều rủi ro, khiến cho các ngân hàng phải đối mặt với mức độ rủi ro tín dụng không nhỏ. 10 Thứ ba, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại dịch vụ tài chính và mở cửa thị trường là những thách thức mà các NHTM trong nước phải đối mặt. Hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại dịch vụ tài chính mở ra nhiều cơ hội cho các NHTM Việt Nam, tạo điều kiện để hệ thống ngân hàng Việt Nam tranh thủ được các nguồn vốn, tiếp thu công nghệ hiện đại, trình độ tiên tiến của các nước trên thế giới.
Đồng thời hội nhập kinh tế quốc tế buộc các ngân hàng Việt Nam phải tự vươn lên để tồn tại và phát triển, mức độ cạnh tranh trên thị trường tài chính trong nước tăng lên, đồng thời đặt các TCTD và thị trường tài chính Việt Nam tước những rủi ro ngoại sinh lớn hơn, chẳng hạn tác động của sự biến động bất lợi của tỷ giá, lãi suất, chu chuyển vốn trên thị trường quốc tế, khủng hoảng tài chính, thị trường tài chính trong nước bị thao túng. Thị trường tài chính Việt Nam là một phần của thị trường tài chính khu vực và quốc tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam chịu ảnh hướng trực tiếp và dễ bị tổn thương hơn từ những biến động bất lợi từ thị trường tài chính khu vực và quốc tế. Do đó, NHNN cần phải có đủ năng lực giám sát hoạt động ngân hàng.