phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu nhƣ sau: Chƣơng 1. Hệ thống ngân hàng thƣơng mại trong nền kinh tế thị trƣờng Chƣơng 2. Thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam Chƣơng 3. Một số phƣơng hƣớng lớn cho sự đổi mới hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt nam.
HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1. VAI TRÕ, CHỨC NĂNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG. Hệ thống tài chính trong nền kinh tế Hệ thống tài chính là tổng thể các quan hệ tài chính trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau, nhƣng thống nhất với nhau về bản chất, chức năng liên hệ hữu cơ với nhau về sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ tồn tại khách quan trong nền kinh tế. Chúng ta biết rằng tài chính là các quan hệ phân phối dƣới hình thức giá trị gắn liền với các họat động kinh tế xã hội.
Vì thế, ở mỗi lĩnh vực hoạt động kinh tế khác nhau phát sinh những quan hệ tài chính nhất định. Những quan hệ tài chính trong các lĩnh vực khác nhau có vị trí, vai trò riêng biệt trong quá trình phân phối các nguồn tài chính dƣới những hình thức nhƣ: ngân hàng, bảo hiểm. Các hình thức này có các khả năng huy động vốn và sử dụng ngồn vốn xã hội vào những mục đích khác nhau cho sự phát triển kinh tế. Giá trị của sản phẩm xã hội, sau khi đƣợc phân phối thông qua thông qua các phạm trù kinh tế: giá cả, tiền lƣơng.
đƣợc đƣa vào dòng chu chuyển kinh tế của doanh nghiệp và cƣ dân. Cƣ dân và doanh nghiệp, sau khi tiêu dùng, đầu tƣ còn lại một phần tích luỹ để tiếp tục đƣợc đầu tƣ vào các doanh nghiệp dƣới các hình thức khác nhau. Vốn dƣới dạng tiền tệ trong trƣờng hợp này đƣợc phân phối lại thông qua phạm trù có đặc thù riêng gọi là tín dụng, là việc tích luỹ lại các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, tín dụng tiếp tục thực hiện quá trình phân phối giá trị ban đầu nó chính là phạm trù tài chính hay nói cách khác, tài chính trong khi phân phối giá trị và tạo lập các nguồn thu nhập và tích luỹ tiền tệ đã tạo điều kiện cho sự vận động của tín dụng.
6 Quá trình vận động của nền kinh tế dẫn tới hiện tƣợng là thu nhập và chi tiêu của các chủ thể thƣờng xuyên không ăn khớp với nhau về khối lƣợng và thời gian. Vì thế luôn có những quỹ tiền thặng dƣ và lại có các chủ thể cần vốn cho kinh doanh hoặc tiêu dùng. TÀI CHÍNH GIÁN TIẾP Vốn Vốn (Các trung gian tài chính) NGƯỜI CHO VAY NGƯỜI ĐI VAY - Các doanh nghiệp - Hộ gia đình - Các doanh nghiệp Vốn - Chính phủ - Chính phủ -. - Hộ gia đình -.
Vốn Vốn TÀI CHÍNH TRỰC TIẾP (Các thị trƣờng tài chính) Dòng vốn chuyển từ nơi có thặng dƣ tới nơi có thâm hụt thông qua hai kênh: - Tài chính trực tiếp: Ngƣời cần vốn trực tiếp huy động từ ngƣời có vốn thặng dƣ bằng cách phát hành các chứng khoán (công cụ tài chính). Chứng khoán thể hiện quyền đƣợc hƣởng của ngƣời cung ứng vốn đối với thu nhập trong tƣơng lai của ngƣời huy động vốn. - Tài chính gián tiếp: Vốn đƣợc chuyển từ ngƣời cho vay tới ngƣời đi vay thông qua trung gian tài chính mà điển hình là các ngân hàng thƣơng mại. Ngân hàng thƣơng mại thực hiện điều này bằng cách nhận tiền gửi của ngƣời cho vay sau đó cho vay lại tới ngƣời cần vay vốn.
7 Đối với các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và cả Chính phủ, nguồn vốn để sản xuất kinh doanh, để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đƣợc hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và chủ yếu qua hai kênh huy động sau: - Thông qua việc phát hành cổ phiếu, các loại giấy tờ có giá khác: trái phiếu, kỳ phiếu, các doanh nghiệp có thể huy động đƣợc một khối lƣợng vốn trực tiếp để bổ sung nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu đầu tƣ, sản xuất kinh doanh của mình. - Thông qua các trung gian tài chính nói chung và ngân hàng thƣơng mại nói riêng. Các ngân hàng thƣơng mại nhận các nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cƣ, các tổ chức kinh tế và cung ứng (cho vay) cho các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp cần vốn để hoạt động. Kênh dẫn vốn gián tiếp có khả năng đáp ứng đƣợc yêu cầu của cả ngƣời đi vay và ngƣời cho vay bằng cách biến đổi thời hạn.
Đó là quá trình kết hợp các nguồn vốn ngắn hạn của những ngƣời cho vay thành các món vay dài hạn của ngƣời đi vay. Những ngƣời cho vay có thể chỉ có những khoản tiền vốn nhỏ để cho vay trong khi ngƣời đi vay lại có nhu cầu về một khoản vay lớn. Vấn đề này đƣợc giải quyết bằng quá trình tổng hợp khi mà ngân hàng thƣơng mại tập hợp các khoản vốn nhỏ thành một khoản vốn lớn để đáp ứng nhu cầu vay món vay lớn của ngƣời đi vay. Khi một ngƣời có vốn cho ngƣời khác vay trực tiếp, ngƣời cho vay phải gánh chịu mọi rủi ro.
Món vay đó có thể đƣợc hoàn trả đầy đủ hoặc ngƣời cho vay có thể bị mất toàn bộ số tiền cho vay. Các ngân hàng thƣơng mại có thể tránh đƣợc tình huống này bằng nguyên tắc phân tán rủi ro. Trong khi hầu hết các món vay đều tốt, chỉ có một số ít món vay trở nên tồi tệ, nhƣng tác động của một vài món vay bị mất đƣợc bù đắp bởi các món vay tốt có khối lƣợng lớn hơn. 8 Trong nền kinh tế thị trƣờng, chức năng trung gian tài chính của ngân hàng thƣơng mại đóng vai trò quan trọng, hoạt động chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn đều thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng thƣơng mại.
Điều này đƣợc thể hiện là nguồn vốn do các ngân hàng thƣơng mại cung cấp cho các doanh nghiệp chiếm một tỷ trọng ngày càng cao trong nguồn vốn tín dụng của doanh nghiệp. Trong kênh tài chính gián tiếp, ngƣời cho vay cuối cùng là những ngƣời gửi tiền. Rủi ro phát sinh trong trƣờng hợp này ngƣời cho vay cuối cùng không phải gánh chịu mà chính là các ngân hàng thƣơng mại. Vì vậy, để giảm thiểu rủi ro chính các trung gian tài chính phải giám sát chặt chẽ các chủ thể kinh tế vay vốn.
Do thông tin không cân xứng, ngân hàng thƣơng mại có thể không nhận đƣợc thông tin đầy đủ về khách hàng vay vốn, họ có thể đƣa ra những quyết định không chính xác trong hoạt động cho vay của mình. Vì thế, trong nỗ lực tối thiểu hoá rủi ro, các ngân hàng thƣơng mại gắn việc cấp tín dụng cho các chủ thể kinh tế với việc giám sát chặt chẽ trƣớc, trong và sau khi cho vay, thực hiện các biện pháp đảm bảo tiền vay và đa dạng hoá các khoản vay. Trƣờng hợp tài trợ qua kênh tài chính trực tiếp, ngƣợc lại với các khoản vay mà các chủ thể kinh tế nhận đƣợc từ ngân hàng thƣơng mại, những ngƣời cho vay cuối cùng là công chúng đầu tƣ và họ phải gánh chịu tất cả những rủi ro phát sinh từ quyết định đầu tƣ của họ. Để giúp các nhà đầu tƣ ra quyết định, thông tin trên thị trƣờng chứng khoán bắt buộc phải công khai, minh bạch, chính xác và kịp thời.
Quá trình điều hoà các nguồn vốn nhàn rỗi từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn đƣợc diễn ra trên thị trƣờng tài chính và tại các trung gian tài chính. Trên thị trƣờng tài chính, cung và cầu về vốn gặp nhau trực tiếp. Chính vì vậy, thì trƣờng tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại giấy tờ có giá, nơi gặp gỡ 9 của các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội qua đó hình thành nên giá mua và giá bán của các loại cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu. Quá trình dẫn vốn từ ngƣời tiết kiệm đến ngƣời đầu tƣ thông qua thị trƣờng tài chính giữ một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế vì: ngƣời có khoản tiền tiết kiệm không phải khi nào cũng sẵn có các cơ hội đầu tƣ sinh lời, việc dẫn vốn qua thị trƣờng tài chính giúp họ kiếm lời thông qua đầu tƣ trên thị trƣờng tài chính.
Ngƣợc lại, những ngƣời có nhiều cơ hội sản xuất kinh doanh nhƣng không đủ vốn thông qua thị trƣờng tài chính họ có thể huy động vốn để đầu tƣ. Từ những phân tích trên, chúng ta thấy, thị trƣờng tài chính có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế, cụ thể nhƣ sau: - Thị trƣờng tài chính thúc đẩy việc tích luỹ và tập trung vốn để đáp ứng các nhu cầu phát triển nền kinh tế. Nếu không có thị trƣờng tài chính mà chỉ dựa vào nguồn tích luỹ của mỗi một chủ thể hoặc dựa vào nguồn vốn vay từ ngân hàng thƣơng mại thì không thể đáp ứng đƣợc nguồn vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi chủ thể kinh tế nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung. - Thị trƣờng tài chính giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn.
Việc sử dụng vốn có hiệu quả không chỉ đối với ngƣời có tiền đầu tƣ mà cả với ngƣời đi vay tiền để đầu tƣ. Vai trò, đặc điểm và chức năng của ngân hàng thương mại. Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên là nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân với trách nhiệm có hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đáp ứng những nhu cầu về vốn trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, ngân hàng thƣơng mại cung cấp các dịch vụ chiết khấu, thanh toán cho khách hàng.
Ngoài ra, Ngân hàng thƣơng mại còn tiến hành những hoạt động nhƣ: 10 - Giao dịch hối đoái về vàng, kim loại quý, đá quí - Đầu tƣ vào các loại giấy tờ có giá, theo những điều kiện nhất định của luật pháp từng nƣớc, - Nhận và cất giữ hộ các loại chứng từ có giá - Tƣ vấn các dịch vụ tài chính. Căn cứ vào các nghiệp vụ thực hiện ngân hàng thƣơng mại đƣợc chia thành 2 loại, ngân hàng kinh doanh tổng hợp và ngân hàng chuyên kinh doanh. Với hoạt động kinh doanh chủ yếu là đi vay để cho vay, hoạt động của ngân hàng thƣơng mại luôn gắn liền với các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và các tầng lớp dân cƣ và vì thế hoạt động này rất nhạy cảm với môi trƣờng kinh tế và pháp luật 1.