Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về VKSND Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của VKSND trong giai đoạn hiện nay Chương 3: Phương hướng và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của VKSND 6 Luan van Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Viện kiểm sát trong Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1. Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước kiểu mới, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân. Với bản chất nhà nước XHCN, nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động là quyền lực nhà nước là thống nhất và tất cả quyền lực thuộc về nhân dân.
Từ bản chất của nhà nước ta, tổ chức theo nguyên tắc tập quyền, khác với nguyên tắc phân quyền trong nhà nước tư bản. Do vậy, nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, do nhân dân bầu ra, do vậy Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất. Song, Quốc hội không thể nắm giữ và làm tất cả các quyền lực đó mà có sự phân công, phân nhiệm rạch rồi giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tất cả những vấn đề nêu trên đều được ghi nhận trong tất cả Hiến pháp, mà cụ thể tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: 1.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp[37]. 7 Luan van Xuất phát từ bản chất và đặc điểm cơ bản nhất của nhà nước ta, phải đảm bảo nguyên tắc tập trung thống nhất quyền lực, kết hợp với nguyên tắc tập trung dân chủ để phân công, phân nhiệm cho từng cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo tính tập trung nhưng cũng phát huy tính tự chủ để để thực hiện tốt quyền lực của nhân dân.
Như vậy, lập pháp, hành pháp và tư pháp là ba phạm vi quyền lực thống nhất trong nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. VKSND là một bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nước ta, tổ chức và hoạt động cũng chi phối bởi các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. VKSND là một trong bốn hệ thống cơ quan nhà nước do Quốc hội bầu ra, thuộc hệ thống các cơ quan tư pháp và là một thiết chế đặc thù trong tổ chức bộ máy nhà nước XHCN. Kể từ khi thành lập đến nay, VKSND luôn khẳng định được vị trí của mình trong bộ máy nhà nước ta.
Ngay từ những ngày đầu thành lập nước đến Hiến pháp năm 1959, mặc dù tổ chức của VKS vẫn tồn tại trong hệ thống tòa án nên chưa hình thành một hệ thống VKSND độc lập như ngày nay, song về hoạt động luôn thể hiện tính độc lập. Sau khi hệ thống Viện công tố chuyển thành hệ thống VKSND trong Hiến pháp năm 1959 đến nay, vị trí của VKSND không hề thay đổi và luôn khẳng định vị trí độc lập trong bộ máy nhà nước, thống nhất từ trung ương đến địa phương. Tổ chức của VKSND có hai thuộc tính là tính thống nhất và tính độc lập: Tính thống nhất của nó được thể hiện ở chỗ: Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên; Viện trưởng các VKS cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao. ính độc lập của nó thể hiện ở chỗ Viện trưởng VKSND tối cao người đứng đầu hệ thống thống nhất đó chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước y ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.
Chế độ báo cáo công tác 8 Luan van của các Viện trưởng các Viện kiểm sát (VKS) khác do luật định. Theo quy định của Luật tổ chức VKSND hiện hành thì ở các địa phương, Viện trưởng VKSND chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân. Như vậy, theo quy định của Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014 thì địa vị pháp lý của VKSND là thiết chế Hiến định trong bộ máy nhà nước, có chức năng THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND đã làm rõ vị trí, vai trò của VKSND trong mối quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước theo tư tưởng Hiến pháp năm 2013.
Với chức năng THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND được xác định là thiết chế kiểm sát hoạt động tư pháp, có trách nhiệm phối hợp, đồng thời, kiểm sát chặt chẽ, thường xuyên đối với cơ quan điều tra, toà án, cơ quan thi hành án và các cơ quan khác trong việc thực hiện hoạt động tư pháp. Mặt khác, Luật cũng quy định rõ các cơ chế giám sát hoạt động của VKSND thông qua các thiết chế dân chủ đại diện (như Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân), thông qua dân chủ trực tiếp và các tổ chức chính trị - xã hội; đồng thời, quy định cơ chế kiểm soát trở lại của cơ quan điều tra, toà án, cơ quan thi hành án và các cơ quan khác có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp đối với việc thực hiện chức năng THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân Với tính chất, vị trí vai trò như trên, vậy cơ cấu tổ chức của VKSND thực chất được quy định như thế nào? Trước hết cần hiểu cơ cấu tổ chức là gì: “Cơ cấu tổ chức của một bộ máy là tổng hợp các bộ phận có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hóa, có những nhiệm vụ, quyền hạn, 9 Luan van trách nhiệm nhất định, được bố trí theo từng cấp, hoặc những khâu công tác khác nhau nhằm thực hiện các hoạt động của tổ chức và tiến tới những mục tiêu đã định sẵn”. Như vậy, cơ cấu tổ chức của VKSND gồm nhiều bộ phận, được phân cấp từ trung ương đến địa phương.
Với chức năng THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp, VKSND hoạt động theo nguyên tắc nào? Ngoài việc là một phần hợp thành hệ thống các cơ quan nhà nước, VKSND là một tổ chức đặc biệt, có cơ cấu tổ chức và hoạt động chặt chẽ. Theo quy định tại Điều 109 Hiến pháp 2013 quy định: 1. Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên.
Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân[37]. Như vậy, theo quy định của Hiến pháp 2013, VKSND hoạt động theo 02 nguyên tắc: Nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành: Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp dưới sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên. VKSND các cấp từ trên xuống dưới tạo thành một hệ thống thống nhất.
Mọi hoạt động của VKSND, dù ở cấp nào, đều đặt dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng. Viện trưởng VKSND phải chịu trách nhiệm cá nhân về toàn bộ hoạt động của đơn vị do mình lãnh đạo trước Viện trưởng VKSND cấp trên và Viện trưởng VKSNDTC. Viện trưởng VKSNDTC chịu trách nhiệm cá nhân về 10 Luan van hoạt động của toàn ngành trước Quốc hội, y ban Thường vụ Quốc Hội, Chủ Tịch nước. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung và thống nhất lãnh đạo trong ngành Kiểm sát đảm bảo cho các cấp hoạt động đồng bộ, thống nhất, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát.
Mặt khác, nhấn mạnh nguyên tắc này nhằm đề cao trách nhiệm cá nhân của Viện trưởng VKSND. Nguyên tắc chỉ tuân theo pháp luật và không phụ thuộc vào cơ quan nhà nước nào ở địa phương: Các Viện kiểm sát nhân dân trực thuộc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách độc lập và không chịu sự chi phối bởi các cơ quan nhà nước ở địa phương, chỉ chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Khi hoạt động, các Viện kiểm sát nhân dân chỉ phụ thuộc vào Hiến pháp, các đạo luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, y ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Có nghĩa là các cơ quan nhà nước ở địa phương không có quyền can thiệp vào hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.
Về mặt cơ cấu tổ chức, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định bộ máy và biên chế của Viện kiểm sát nhân dân các cấp, không chịu sự tác động của các cơ quan khác. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân là một thiết chế Hiến định trong bộ máy nhà nước. Theo Điều 107 Hiến pháp năm 2013, VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Cụ thể hóa Điều 107 Hiến pháp năm 2013, Điều 2 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định: VKSND là cơ quan THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.