Chương 1. Tổng quan và vấn đề chính sách: Nội dung phần này giới thiệu về bối cảnh chính sách và lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Cơ sở lý thuyết: Phần này trình bày khái quát một số phương pháp đo lường chi phí xã hội của vốn cho một tổ chức tài chính phát triển hiện đang được áp dụng, một số ưu điểm và nhược điểm của các phương pháp trên. Từ đó lựa chọn một phương pháp hợp lý sử dụng trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 nghiên cứu này.
Đồng thời, nội dung phần này cũng trình bày sơ lược hai công trình nghiên cứu thực nghiệm nhằm đo lường chi phí xã hội của vốn cho một tổ chức tài chính phát triển. Đo lường chi phí xã hội của vốn tại Ngân hàng phát triển Việt Nam: Nội dung phần này dựa trên khung phân tích đã xác đ ịnh để xây dựng công thức đo lường chi phí xã hội của vốn phù hợp với Ngân hàng phát triển Việt Nam, từ đó sử dụng số liệu đã thu thập để đo lường chỉ tiêu này. Kết luận và kiến nghị: Dựa trên phương pháp nghiên cứu tại chương 2, kết quả đo lường tại chương 3, tác giả kết luận nội dung nghiên cứu và đưa ra một số đề xuất và kiến nghị. Một số hạn chế của đề tài cũng được nêu ra trong chương này.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Đo lường chi phí xã hội của vốn của một tổ chức tài chính phát triển Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình định chế tài chính phát triển tuy chưa dài song đã đ ạt được nhiều thành công và cũng có những thất bại. Nhiều tổ chức tài chính phát triển ra đời trong những thời điểm rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, góp phần không nhỏ thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Đơn cử một số Ngân hàng Phát triển Châu Á đạt những thành công nhất định có Ngân hàng phát triển Hàn Quốc thành lập năm 1954, Ngân hàng phát triển Nhật Bản từ những năm 1940 sau chiến tranh thế giới thứ hai, Ngân hàng phát triển Philipin năm 1958, Ngân hàng phát triển Nhà nước Trung Quốc thành lập năm 1994…. Do đặc thù và đặc trưng riêng có của mô hình tổ chức tài chính phát triển nói chung, Ngân hàng phát triển nói riêng, các chuyên gia kinh tế đã cố gắng xây dựng nhiều phương pháp để đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức này, để từ đó tạo cơ sở nền tảng giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra những quyết định phù hợp đối với mô hình DFI.1 Chỉ số phụ thuộc trợ cấp Chỉ số phụ thuộc trợ cấp (Subsidy Dependence Index - SDI) được Yaron, chuyên gia kinh tế cấp cao của Ngân hàng thế giới đề xuất lần đầu vào năm 1992.
SDI là chỉ số đánh giá mức độ phụ thuộc trợ cấp nhận được trong quá trình hoạt động của một tổ chức tài chính phát triển, được tính cho khoảng thời gian ngắn, thường là 1 năm. SDI được tính bằng tỉ lệ của tổng các hình thức trợ cấp DFI được nhận trong năm so với thu nhập từ lãi vay của các đối tượng theo chương trình mục tiêu của DFI. SDI đánh giá liệu một tổ chức tài chính phát triển có sử dụng hiệu quả nguồn vốn được xã hội trợ cấp hay không. Để làm được điều này, SDI sử dụng chi phí vốn kinh tế để đo lường mức độ trợ cấp mà xã hội đã cung cấp cho DFI trong quá trình hoạt động.
Ở đây, Yaron sử dụng lý thuyết chi phí cơ hội của vốn để xây dựng công thức tính toán trợ cấp mà DFI nhận được. Đối TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 với một tổ chức tài chính phát triển, xã hội chính là đối tượng chịu mọi chi phí, do trợ cấp dành cho tổ chức thường được lấy từ tiền thuế của các chủ thể trong xã hội. SDI cung cấp một khung phân tích để đánh giá số trợ cấp mà DFI nhận được. SDI dương trong trường hợp DFI phụ thuộc trợ cấp và SDI âm khi DFI độc lập trợ cấp, tức là khi DFI sử dụng các nguồn vốn trợ cấp với chi phí vốn kinh tế mà vẫn có lợi nhuận.
Chỉ số SDI cũng có thể được sử dụng nhằm ước lượng số phần trăm thay đổi trong đường cong lợi suất của các khoản tín dụng DFI cho vay để một DFI độc lập trợ cấp. Kết quả tính SDI có thể được sử dụng để điều chỉnh các chỉ số ROE và ROA của tổ chức tài chính phát triển, từ đó đánh giá hiệu quả hoạt động của DFI khi không có trợ cấp. Theo Schreiner và Yaron (2001), SDI có nhiều ưu điểm (Phụ lục 2), do vậy SDI trở thành một trong những công cụ được dùng đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các DFI được nhận trợ cấp. Tuy nhiên, SDI không tính toán những chi phí – lợi ích của các nghiệp vụ ngoài tín dụng đầu tư phát triển của DFI, SDI chỉ đánh giá hiệu quả hoạt động chính của một DFI, đó là cho vay theo mục tiêu.2 Chi phí hiện tại ròng đối với xã hội Chi phí hiện tại ròng đ ối với xã hội (NPCS) là một chỉ số đo lường trợ cấp có tính chiết khấu thời gian của dòng tiền, do đó có thể sử dụng trong đánh giá dài hạn cũng như ngắn hạn.
Chỉ số này được Schreiner, một nhà kinh tế đề xuất năm 1997. Chỉ số NPCS trả lời câu hỏi: Xã hội đã b ỏ qua những lợi ích gì khi trao nguồn vốn trợ cấp cho DFI thay vì cho những dự án khác? NPCS đo lường chi phí xã hội của vốn bằng phương pháp tương tự SDI, phương pháp sử dụng chi phí cơ hội của vốn. Trong đó sử dụng chi phí vốn kinh tế trong tính toán như SDI. NPCS cũng h ạn chế nhược điểm của SDI khi sử dụng chiết khấu dòng tiền theo thời gian, do đó NPCS có ý nghĩa trong khoảng thời gian ngắn hạn và dài hạn.
NPCS có dấu âm khi DFI hoạt động hiệu quả, tức là xã hội đã đ ầu tư tốt khi trao nguồn vốn trợ cấp cho DFI. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Tương tự SDI, NPCS không tính toán những lợi ích – chi phí của những hoạt động ngoài tín dụng truyền thống của DFI. Nếu những lợi ích này đủ lớn, thì một DFI có NPCS dương vẫn có thể là một DFI hoạt động hiệu quả. Hai chỉ số SDI và NPCS không hoàn hảo, tuy nhiên đây là hai chỉ số nhiều ưu điểm giúp đo lường chi phí xã hội của vốn của một tổ chức tài chính phát triển công.3 Tỷ lệ phụ thuộc trợ cấp Tỷ lệ phụ thuộc trợ cấp SDR được xây dựng với mục đích hoàn thiện chỉ số SDI, từ đó đo lường chi phí xã hội của vốn cho DFI một cách hiệu quả hơn.
(Khandker, Khality, và Khan, 1995) Chỉ số SDI được tính dựa trên tỉ lệ trợ cấp và doanh thu từ các khoản tín dụng của DFI, trong khi một DFI có thể có doanh thu từ các nghiệp vụ khác, ví dụ như các khoản đầu tư (trái phiếu kho bạc…), hay thu phí và lệ phí khi cung cấp dịch vụ ngân hàng… Như vậy, DFI có thể giảm sự phụ thuộc vào trợ cấp bằng cách tăng doanh thu từ tất cả các hoạt động của mình, mà không phải chỉ từ các nghiệp vụ tín dụng. Tỷ lệ phụ thuộc trợ cấp SDR được tính bằng nguồn trợ cấp trên tổng doanh thu từ các khoản tín dụng, đầu tư. Như vậy, SDR luôn nhỏ hơn hoặc bằng với SDI. Sử dụng SDR để đánh giá hiệu quả của DFI, ta sẽ có xu hướng giảm mức phụ thuộc trợ cấp của DFI.
Điều này thể hiện tình trạng tài chính thực tế của DFI tại thời điểm đó, song lại có thể gây những đánh giá sai lầm. (i) DFI là một tổ chức tài chính phát triển với nhiệm vụ chính là cho vay các chương trình mục tiêu, nếu doanh thu từ các hoạt động khác cao, sẽ gây đánh giá sai lầm về hiệu quả hoạt động của các chương trình mục tiêu, (ii) Khi DFI nhận được nhiều lợi nhuận từ hoạt động đầu tư, thì cũng có nghĩa r ủi ro hoạt động của DFI tăng cao. Điều này không có lợi đối với hoạt động bền vững của DFI trong tương lai. Đặc biệt là khi DFI sử dụng nguồn vốn xã hội giá rẻ để đầu tư thu lợi trên thị trường vốn, DFI sẽ thu hẹp nguồn vốn cho vay trong các chương trình mục tiêu (Yaron và Schreiner, 2001).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Chỉ số tự bền vững về tài chính Một chỉ số khác thường được sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động về mặt tài chính của một DFI, đó là Chỉ số tự bền vững về tài chính - FSS. FSS được tính bằng thu nhập (loại bỏ các khoản trợ cấp) chia cho chi phí (không tính các khoản hỗ trợ) của DFI. Theo Gaul (2009), thì SDI và FSS khá tương tự trong việc đo lường hiệu quả hoạt động, tuy nhiên, có sự khác nhau cơ bản đó là SDI có tính tới nguồn trợ cấp mà DFI được nhận, và không tính tới những nguồn thu khác của DFI ngoài thu nhập từ lãi vay. Do vậy, chỉ số FSS thường đánh giá mức độ độc lập tài chính một cách “hào phóng” hơn SDI, tương tự như SDR.
Cũng theo Gaul (WB, 2009), thì FSS thư ờng được sử dụng để đánh giá mức độ độc lập tài chính cho một tổ chức tài chính phát triển “trước khi nhận khoản tài trợ mới”, còn SDI thì thường được sử dụng để đo lường mức độ phụ thuộc trợ cấp “sau khi nhận tài trợ”. Như vậy FSS thường được các nhân viên của DFI sử dụng, còn SDI thì thư ờng phản ánh cách nhìn của những nhà hoạch định chính sách. Một nhà phân tích cũng s ẽ lựa chọn trong các nhóm nhân tố: doanh thu và chi phí đối với FSS, và thu nhập từ lãi và trợ cấp đối với SDI, nhóm nhân tố nào phù hợp với mục đích phân tích, từ đó lựa chọn mô hình và chỉ số phù hợp.2 Thiết lập công thức đo lường chi phí xã hội của vốn tại một tổ chức tài chính phát triển Do có nhiều ưu điểm, hai chỉ số SDI và NPCS thường được sử dụng để đánh giá mức độ phụ thuộc trợ cấp của một DFI, từ đó đo lường chi phí xã hội của vốn của DFI. Tác giả lựa chọn hai chỉ số này để đo lường chi phí xã hội của vốn cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam.