Chương 1: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý luận về định giá cổ phiếu Ngân hàng thương mại Chương 2: Phương pháp nghiên cứu luận văn Chương 3: Thực trạng định giá cổ phiếu Ngân hàng thương mại sau sáp nhập ở Việt Nam hiện nay Chương 4: Kiến nghị và đề xuất hoàn thiện việc Định giá cổ phiếu Ngân hàng Thương mại sau sáp nhập 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tài liệu Sau giai đoạn khủng hoảng, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu hồi phục và dần lấy lại đà tăng trưởng mạnh mẽ của mình. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2015 đạt 6,68%, cao nhất 5 năm. Trên thị trường, xuất hiện các nhu cầu giải quyết tồn đọng của khủng hoảng, xử lý các doanh nghiệp yếu kém, đồng thời củng cố vị thế và thâu tóm thị trường từ các doanh nghiệp đang đà phát triển.Mua bán sáp nhập nổi lên là giải pháp hữu hiệu nhất, nhanh gọn nhất để giải quyết các vấn đề này.
Đây là đề tài được tập trung nghiên cứu từ lâu, với nhiều đề tài công trình nghiên cứu lớn, tuy nhiên do những diễn biến nhanh chóng từ thị trường gần đây cho thấy rằng các nhà nghiên cứu và nhà thực tiễn rất cần thiết phải bổ sung những nghiên cứu mới, đặc biệt là trong lĩnh vực định giá cổ phiếu. Ngay từ đầu những năm 2000, chương trình giảng dạy kinh tế Fullbirght đã có hàng loạt bài viết truyền tải các kiến thức về định giá cổ phiếu thường và cách thức tiến hành M&A. Các phương pháp định giá cổ phiếu và ưu nhược điểm từng phương pháp được trình bày rõ ràng đầy đủ trong các tài liệu của chương trình. Mặc dù chúng rất hữu ích nhưng vẫn chưa chỉ rõ sử dụng phương pháp nào trong điều kiện Việt Nam sẽ hiệu quả.
Trong hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án Tiến sĩ: “Luận cứ khoa học về phương pháp định giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam” bảo vệ thành công năm 2003, tác giả Vũ Thị Kim Liên đã đề cập và phân tích các lý luận và phương pháp luận nghiên cứu về phương pháp 5 định giá cổ phiếu, sắp xếp, phân loại các nhóm phương pháp và chỉ ra các phương pháp phổ biến áp dụng trên thế giới. Luận án đã nêu bật ưu, nhược điểm từng phương pháp, đồng thời chỉ ra các điểm quan trọng cần chú ý khi áp dụng từng phương pháp. Tác giả đã chỉ ra điểm mấu chốt trong cách định giá cổ phiếu tại Việt Nam là việc chưa tính toán được hết các yếu tố tạo nên giá trị doanh nghiệp, việc sử dụng các phương pháp cứng nhắc và không phù hợp với loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, luận án vẫn chưa giải thích rõ các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu, giá cả trên thị trường, chưa phân biệt rõ định giá trên thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ như thế nào.
Trong bài viết “Nhân tố ảnh hưởng tới giá chứng khoán của Việt Nam – Một số điểm cần lưu ý” đăng trên mục nghiên cứu và trao đổi, tạp chí Phát triển và Hội nhập số 8 tháng 1 năm 2013, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Dung có phân loại các nhân tố tác động tới giá chứng khoán theo nguồn gốc hình thành, đó là nhân tố nội sinh, nhân tố ngoại sinh, và các nhân tố ảnh hưởng khác. Tác giả đưa ra những luận điểm cần chú ý khi tiến hành phân tích giá cổ phiếu, qua đó đã chỉ ra và làm rõ hơn các nhân tố vô hình, các lợi thế thương mại của công ty, đồng thời đề cập đến tác động của các yếu tố đặc biệt. Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa làm rõ được tác động và mối liên hệ căn bản của các nhân tố với nhau, chưa chỉ rõ sự ảnh hưởng lan tỏa dây chuyền giữa các nhân tố. Các điểm cần chú ý mà bài viết đưa ra vẫn chưa thực sự là cách giải quyết các vấn đề được đề cập.
Bản thân cách phân chia các nhân tố theo tác giả vẫn chưa thật sự hợp lý. Dựa trên kinh nghiệm làm việc lâu năm tại nước ngoài, tác giả Mạc Quang Huy trong cuốn “cẩm nang ngân hàng đầu tư” xuất bản năm 2009 đã hệ thống hóa lại các phương pháp định giá chứng khoán thành 3 loại: Phương pháp định giá dựa theo thu nhập (bao gồm GGM, DCF, EVA), phương pháp dựa trên hệ số 6 so sánh (PER, PEB, EBITDA) và phương pháp hỗn hợp (sử dụng đồng thời kết hợp hai phương pháp). Cuốn sách được đánh giá rất cao vì đã đề cập đến phương pháp hay và rất mới trên thế giới, đồng thời chỉ ra cách thức vận hành kết hợp nhiều phương pháp định giá sẽ tăng hiệu quả định giá và giảm thiểu sai lệch.Tác giả đã có những ý kiến rất quan trọng về việc định giá cổ phiếu khi tiến hành sáp nhập. Trong luận án tiến sĩ đề tài:”Cơ chế xác định giá trị doanh nghiệp của các tổ chức định giá ở Việt Nam năm 2010” tác giả Phạm Tiến Đạt đã làm nổi bật vấn đề thực trạng cơ chế xác định giá trị, những tồn tại và hạn chế của các cơ chế xác định giá trong điều kiện kinh tế Việt Nam.
Nhìn thẳng vào thực tế hoạt động định giá tại các tổ chức định giá, tác giả chỉ rõ những bất cập, hạn chế, những điểm cần chú ý cần hoàn thiện và nguyên nhân. Điểm thiếu sót của luận án là chưa đề cập đến rủi ro trong hoạt động định giá, phải làm sao để hạn chế được rủi ro và sai số của phép đo, và cách thưc khắc phục sai số, rủi ro trong hoạt động định giá. Về lĩnh vực M&A, đầu những năm 2000 đã có một vài công trình nghiên cứu sâu về M&A và triển vọng M&A trên thị trường Việt Nam. Khi đó, trên thị trường đã xuất hiện nhiều thương vụ mua bán sáp nhập gây chấn động, như vụ mua lại kem đánh răng Dạ Lan, vụ sáp nhập Ngân hàng nông thôn Đồng Tháp,v.v…Liên tục trong các báo cáo thường niên M&A từ năm 2007 đến 2012, STOXPLUS đánh giá rất cao thị trường Việt Nam, chỉ ra sự tăng trưởng nóng của thị trường đặc biệt là trong năm 2012, năm vàng của hoạt động M&A.
Báo cáo M&A 2013-2014 của diễn đàn M&A Việt Nam cho thấy, năm 2014 là năm bắt đầu của làn song thứ hai sau làn sóng 2003-2013. Ngoài ra báo cáo cũng đề cập, trong tương lai M&A trong lĩnh vực Tài chính sẽ phát triển mạnh, tiệm cận với tỷ trọng giá trị các thương vụ trong tổng giá trị M&A của thế giới. 7 Tác giả Lương Minh Hà trong bài viết: “Hoạt động mua bán sáp nhập trong lĩnh vực Tài chính Ngân hàng tại Việt Nam” xuất bản năm 2009 đã chỉ ra được các động lực cơ bản của hoạt động M&A trong lĩnh vực Ngân hàng. Đó là xuất phát từ các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp (sự tham gia của khối ngoại, sức ép vốn điều lệ/tỷ lệ an toàn vốn, hành lang pháp lý,…), các nhân tố bên trong doanh nghiệp.
Không chỉ thống kê số lượng, giá trị mà còn đề cập đến xu hướng của hoạt động trong những năm tiếp sau đó.Tuy nhiên, bài viết vẫn chưa chỉ rõ được động lực thực sự của M&A trong lĩnh vực ngân hàng đến từ đâu, và phương pháp tiến hành. Vậy động lực thực sự của M&A đến từ đâu? Trong luận văn thạc sĩ :” Giải pháp cho Ngân hàng Thương mại Việt Nam trước xu thế sáp nhập và mua lại” 2008 Tác giả Lê Thị Ái Linh đã đề cập được đầy đủ và chi tiết động lực thực sự của việc M&A trong lĩnh vực tài chính. Đề cập đến thuận lợi, khó khăn trong việc mua bán sáp nhập trong lĩnh vực tài chính, đồng thời đề cập đến việc cơ quan quản lý phải có động thái hỗ trợ tích cực để mang lại hiệu quả cao hơn.Điểm nổi bật là tác giả đã đề cập đến các vấn đề “hậu M&A”, một vấn đề hết sức quan trọng phải lưu tâm chú ý đặc biệt. Trần Ái Phương, 2009.
Trong bài luận văn thạc sĩ:” Giải pháp thúc đẩy M&A Ngân hàng” có đề cập đầy đủ cách thức một thương vụ M&A diễn ra. Từ giai đoạn nghiên cứu đến khi nó hoàn thành.Luận văn cũng đề cập khá nhiều phương pháp định giá tài sản một ngân hàng, xem xét các khía cạnh đặc thù của ngân hàng khi tiến hành định giá tài sản. Luận văn cũng bổ sung luận điểm về sự cần thiết của các tập đoàn tài chính ngân hàng vững mạnh, sự cần thiết, yếu tố cốt lõi, đặc điểm nhận dạng và cách thức hình thành. Nguyễn Thị Ngọc Khuyên trong luận văn thạc sĩ bảo vệ năm 2009 với 8 đềtài:“Định giá trong hoạt động Mua lại và sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam” đã hệ thống đầy đủ và chi tiết hầu hết các vấn đề của công tác định giá trong hoạt động M&A.
Tác giả đã đề cập đến định giá sau sáp nhập, đề cập đến mối quan hệ giữa định giá trên thị trường sơ cấp và giá trị trên thị trường thứ cấp. Đồng thời đưa ra một vài ý kiến về tầm quan trọng của việc định giá sau sáp nhập đối với hoạt động M&A. Nhìn chung, các tài liệu trên đã lần lượt đề cập đến rất nhiều vấn đề xung quanh công tác định giá cổ phiếu trong hoạt động mua bán sáp nhập, đề cập đến mối quan hệ qua lại giữa việc định giá và hiệu quả của hoạt động M&A. Trên cơ sở kế thừa thành quả nghiên cứu của các công trình trên, luận văn tập trung đi sâu hơn vào vấn đề định giá cổ phiếu Ngân hàng sau sáp nhập.
Bổ sung thêm một nghiên cứu mới, góp phần hoàn thiện các nghiên cứu trước đó về định giá cổ phiếu trong hoạt động mua bán sáp nhập. Cơ sở lý luận về định giá cổ phiếu 1. Các khái niệm chung Theo kinh tế học, trong nền kinh tế thị trường có hai loại tài sản chủ yếu là tài sản hữu hình (tài sản thực) và tài sản tài chính. Theo định nghĩa của Markowitz, tài sản tài chính là những chứng từ thể hiện quyền của người sở hữu chúng đối với các nguồn thu nhập trong tương lai của người phát hành.
Tài sản tài chính gồm tiền và chứng khoán, trong đó chứng khoán lại được chia thành hai nhóm chính là Trái phiếu và Cổ phiếu.Ngoài ra, các công cụ phái sinh là những loại chứng khoán có nguồn gốc từ Trái phiếu và Cổ phiếu.