Thiết kế sàn sườn có bản một phương BTCT toàn khối - TS. Nguyễn Trường Thắng

Chuyên khảo phân tích Design of cast in situ reinforced concrete one way slabes thiết kế sàn sườn có bản một phương bê, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Kỹ Thuật Xây Dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2023

114
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan thiết kế sàn sườn có bản một phương bê tông cốt thép

Sàn sườn bê tông cốt thép đổ toàn khối là một trong những hệ kết cấu chịu lực phổ biến nhất trong xây dựng dân dụng và công nghiệp tại Việt Nam. Theo tài liệu của TS. Nguyễn Trường Thắng, hệ kết cấu này bao gồm các bản sàn, dầm chính và dầm phụ được đổ liền khối, tạo thành một hệ thống có độ cứng cao và khả năng chịu tải vượt trội. Cấu kiện cốt lõi của hệ thống này là bản sàn làm việc một phương, xảy ra khi tỷ số giữa cạnh dài (l2) và cạnh ngắn (l1) của một ô sàn lớn hơn 2 (l2/l1 > 2). Trong trường hợp này, tải trọng tác dụng lên sàn chủ yếu truyền theo phương cạnh ngắn, và bản sàn được tính toán như một dầm liên tục có chiều rộng 1m. Việc thiết kế sàn sườn có bản một phương bê tông cốt thép toàn khối đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định trong tiêu chuẩn TCVN 5574:2018 để đảm bảo an toàn, bền vững và tối ưu về mặt kinh tế. Tài liệu nghiên cứu nhấn mạnh rằng ưu điểm của loại sàn này là khả năng chịu lực tốt, chống cháy hiệu quả và thi công tương đối đơn giản với vật liệu sẵn có. Tuy nhiên, việc tính toán và bố trí cốt thép cần được thực hiện cẩn thận để kiểm soát biến dạng, đặc biệt là kiểm tra độ võngkiểm tra nứt, vốn là những yếu tố quyết định đến tuổi thọ và khả năng sử dụng của công trình. Hệ thống này bao gồm các cấu kiện chính: bản sàn chịu tải trực tiếp, dầm phụ đỡ bản sàn và truyền tải trọng vào dầm chính, và dầm chính gối lên cột để truyền toàn bộ tải trọng xuống móng. Sự liên kết toàn khối giữa các cấu kiện giúp tăng cường độ cứng tổng thể của công trình.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của sàn sườn toàn khối một phương

Một sàn sườn toàn khối được định nghĩa là một hệ kết cấu sàn trong đó bản và dầm được đổ bê tông liền khối. Đặc điểm chính của bản sàn làm việc một phương là khi tỷ số cạnh dài trên cạnh ngắn của ô bản sàn lớn hơn 2. Lúc này, độ võng ở giữa cạnh dài lớn hơn đáng kể so với giữa cạnh ngắn, dẫn đến nội lực (mô men uốn) theo phương cạnh ngắn chiếm ưu thế tuyệt đối. Do đó, trong thực hành tính toán sàn bê tông cốt thép, có thể bỏ qua mô men theo phương cạnh dài và chỉ xem xét dải bản rộng 1m làm việc như một dầm liên tục gối lên các dầm phụ. Cấu kiện này còn được gọi là bản loại dầm. Việc phân loại này là cơ sở để lựa chọn sơ đồ tính bản sàn phù hợp, giúp đơn giản hóa quá trình phân tích kết cấu mà vẫn đảm bảo độ chính xác cần thiết.

1.2. Vai trò các cấu kiện trong kết cấu bê tông cốt thép

Trong hệ kết cấu bê tông cốt thép sàn sườn một phương, mỗi cấu kiện có vai trò riêng biệt. Bản sàn là bộ phận chịu tải trực tiếp từ tĩnh tải (trọng lượng bản thân, các lớp hoàn thiện) và hoạt tải (người, thiết bị). Tải trọng này sau đó được truyền vào các dầm phụ. Dầm phụ, được bố trí song song theo phương cạnh dài, gác lên các dầm chính và có nhiệm vụ thu tải trọng từ một diện tích sàn nhất định. Cuối cùng, dầm chính nhận tải trọng từ các dầm phụ và truyền xuống hệ cột, vách. Sự phân cấp truyền lực rõ ràng này giúp việc phân tích và thiết kế trở nên hệ thống. Lớp bê tông bảo vệ đóng vai trò cực kỳ quan trọng, đảm bảo cốt thép chịu lực không bị ăn mòn và duy trì khả năng làm việc lâu dài của kết cấu.

II. Thách thức khi thiết kế sàn một phương và xác định tải trọng

Một trong những thách thức lớn nhất trong quá trình thiết kế sàn sườn có bản một phương bê tông cốt thép toàn khối là việc xác định chính xác kích thước sơ bộ và các loại tải trọng tác dụng lên sàn. Việc lựa chọn chiều dày bản sàn (hs) và tiết diện dầm (bxh) không hợp lý ngay từ đầu có thể dẫn đến hai kịch bản: quá lãng phí vật liệu nếu tiết diện quá lớn, hoặc không đảm bảo khả năng chịu lực và vượt quá giới hạn về độ võng nếu tiết diện quá nhỏ. Tài liệu của TS. Nguyễn Trường Thắng đề xuất các công thức kinh nghiệm để xác định sơ bộ kích thước này, ví dụ chiều dày bản sàn được tính theo công thức hs = (D/m)*l1, trong đó l1 là nhịp theo phương cạnh ngắn, D và m là các hệ số phụ thuộc vào tải trọng và điều kiện liên kết. Việc xác định tải trọng cũng là một bước phức tạp, bao gồm tĩnh tải (trọng lượng bản thân kết cấu và các lớp hoàn thiện) và hoạt tải (phụ thuộc vào công năng sử dụng). Các giá trị này phải được lấy theo tiêu chuẩn TCVN 2737:1995. Một sai sót nhỏ trong việc tính toán tải trọng có thể dẫn đến kết quả tính toán mô men và lực cắt bị sai lệch lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến việc bố trí cốt thép chịu lực và sự an toàn của toàn bộ công trình. Hơn nữa, việc tổ hợp các trường hợp tải trọng bất lợi nhất để tìm ra nội lực nguy hiểm nhất tại mỗi tiết diện là một bài toán đòi hỏi sự cẩn trọng và kinh nghiệm của người kỹ sư thiết kế.

2.1. Phương pháp xác định sơ bộ chiều dày bản sàn và tiết diện dầm

Việc lựa chọn sơ bộ kích thước cấu kiện là bước nền tảng. Chiều dày bản sàn (hs) thường được chọn dựa trên điều kiện kiểm soát độ võng. Thông thường, hs được chọn trong khoảng (1/30 - 1/35) nhịp tính toán của bản. Đối với dầm, chiều cao dầm phụ (hdp) có thể chọn sơ bộ bằng (1/12 - 1/16) nhịp dầm phụ, và chiều cao dầm chính (hdc) bằng (1/8 - 1/12) nhịp dầm chính. Chiều rộng dầm (b) thường được chọn bằng (0.3 - 0.5) chiều cao dầm. Các kích thước này sau khi được chọn sơ bộ sẽ được kiểm tra lại thông qua các bước tính toán sàn bê tông cốt thép chi tiết về khả năng chịu lực và biến dạng theo TCVN 5574:2018.

2.2. Cách tính toán và tổ hợp tải trọng tác dụng lên sàn

Tải trọng tác dụng lên sàn được chia thành hai loại chính: tĩnh tải và hoạt tải. Tĩnh tải bao gồm trọng lượng bản thân của các lớp cấu tạo sàn (bê tông, vữa, gạch lát...), được tính bằng cách nhân thể tích với trọng lượng riêng và hệ số độ tin cậy. Hoạt tải được xác định dựa trên chức năng của công trình theo tiêu chuẩn TCVN 2737:1995. Sau khi xác định được các giá trị tải trọng tiêu chuẩn, cần nhân với hệ số vượt tải để có tải trọng tính toán. Tổng tải trọng tác dụng lên sàn (q) là tổng của tĩnh tải tính toán (g) và hoạt tải tính toán (p). Tải trọng này được dùng để xác định nội lực trong bản sàn và dầm, là cơ sở cho các bước tính toán tiếp theo.

III. Hướng dẫn tính toán cốt thép cho bản sàn làm việc một phương

Sau khi đã có sơ đồ tính và tải trọng, bước tiếp theo trong quy trình thiết kế sàn sườn có bản một phương bê tông cốt thép toàn khối là tính toán và bố trí cốt thép cho bản sàn. Quá trình này bắt đầu bằng việc xác định nội lực, chủ yếu là mô men uốn và lực cắt, trong dải bản rộng 1m. Theo tài liệu của TS. Nguyễn Trường Thắng, đối với các sàn có nhịp chênh lệch không quá 10% và chịu tải phân bố đều, có thể áp dụng phương pháp phân tích dẻo (plastic analysis) và sử dụng các công thức tra bảng để tính toán mô men một cách nhanh chóng. Ví dụ, mô men dương lớn nhất ở nhịp biên là M = ql²/11 và mô men âm lớn nhất tại gối thứ hai là M = -ql²/11. Tại các nhịp và gối giữa, giá trị mô men có thể lấy là M = ±ql²/16. Từ các giá trị mô men tính được, diện tích cốt thép chịu lực (As) cần thiết được xác định theo công thức của kết cấu bê tông cốt thép, dựa trên cường độ của bê tông (Rb) và cốt thép (Rs). Một yếu tố quan trọng là kiểm tra hàm lượng cốt thép (μ = As / (bh0)) phải nằm trong giới hạn cho phép (μmin ≤ μ ≤ μmax) theo TCVN 5574:2018 để đảm bảo kết cấu làm việc dẻo và tránh phá hoại giòn. Ngoài cốt thép chịu lực chính đặt theo phương cạnh ngắn, cần bố trí cốt thép cấu tạo theo phương cạnh dài để chống co ngót, biến dạng do nhiệt độ và phân bố tải trọng cục bộ.

3.1. Lựa chọn sơ đồ tính bản sàn và xác định nội lực

Đối với bản sàn làm việc một phương, sơ đồ tính bản sàn phổ biến nhất là xem một dải bản rộng 1m như một dầm liên tục nhiều nhịp gối lên các dầm phụ. Các liên kết tại gối (dầm phụ) được xem là ngàm đàn hồi. Nội lực, bao gồm biểu đồ mô men và lực cắt, được xác định dựa trên sơ đồ này. Phương pháp phân tích dẻo cho phép tái phân phối mô men, giúp tận dụng khả năng chịu lực của vật liệu và làm cho việc bố trí cốt thép trở nên kinh tế hơn. Việc xác định chính xác các giá trị mô men dương tại giữa nhịp và mô men âm tại gối là tiền đề để tính toán sàn bê tông cốt thép một cách chính xác.

3.2. Tính toán và bố trí cốt thép chịu lực cho ô bản sàn

Từ giá trị mô men uốn (M), diện tích cốt thép chịu lực (As) được tính toán. Quy trình bao gồm: tính hệ số αm = M / (Rb * b * h0²), so sánh với hệ số giới hạn αR để đảm bảo điều kiện phá hoại dẻo, sau đó xác định hệ số ζ và tính As = M / (ζ * Rs * h0). Sau khi có diện tích cốt thép yêu cầu, kỹ sư sẽ chọn đường kính (ϕ) và khoảng cách (a) giữa các thanh thép sao cho diện tích cốt thép thực tế lớn hơn hoặc bằng diện tích tính toán. Cấu tạo cốt thép sàn yêu cầu khoảng cách các thanh thép không được quá thưa (thường < 200mm) để kiểm soát vết nứt, cũng không được quá dày để đảm bảo chất lượng đổ bê tông.

3.3. Yêu cầu về cốt thép cấu tạo và kiểm tra các điều kiện bền

Ngoài cốt thép chịu lực, cốt thép cấu tạo đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính toàn vẹn của bản sàn. Cốt thép này được đặt vuông góc với cốt thép chịu lực, với hàm lượng thường bằng 20-30% hàm lượng cốt thép chịu lực. Sau khi bố trí thép, các bước kiểm tra cuối cùng là bắt buộc, bao gồm kiểm tra nứtkiểm tra độ võng. Sàn phải thỏa mãn các điều kiện về trạng thái giới hạn thứ hai theo TCVN 5574:2018. Đối với bản sàn, lực cắt thường nhỏ và được bê tông chịu hoàn toàn, do đó ít khi cần tính toán cốt thép đai, nhưng việc kiểm tra khả năng chịu cắt của bê tông vẫn là cần thiết để đảm bảo an toàn tuyệt đối.

IV. Phương pháp thiết kế dầm phụ trong hệ sàn sườn một phương

Dầm phụ là cấu kiện trung gian, nhận tải trọng từ bản sàn và truyền vào dầm chính. Việc thiết kế dầm phụ trong hệ sàn sườn toàn khối cũng tuân theo các nguyên tắc cơ bản của kết cấu bê tông cốt thép. Tải trọng tác dụng lên dầm phụ là tải trọng phân bố đều, bao gồm trọng lượng bản thân dầm và tải trọng từ hai nửa ô sàn hai bên truyền vào. Sơ đồ tính của dầm phụ thường là một dầm liên tục nhiều nhịp, gối lên các dầm chính hoặc cột. Tương tự bản sàn, nội lực trong dầm phụ (mô men uốn và lực cắt) có thể được xác định bằng phương pháp phân tích dẻo hoặc đàn hồi. Một điểm khác biệt quan trọng khi thiết kế dầm phụ là tiết diện tính toán. Tại vùng có mô men dương (giữa nhịp), cánh sàn nằm trong vùng nén, do đó tiết diện làm việc là tiết diện chữ T, giúp tăng đáng kể khả năng chịu lực. Ngược lại, tại vùng có mô men âm (trên gối), cánh sàn nằm trong vùng kéo và bị bỏ qua, tiết diện tính toán là tiết diện chữ nhật (chỉ có phần sườn dầm). Việc tính toán cốt thép chịu lực (cốt thép dọc) và cốt thép chịu cắt (cốt đai) phải được thực hiện cho cả hai loại tiết diện này để đảm bảo dầm đủ khả năng chịu lực tại mọi vị trí. Cuối cùng, việc kiểm tra độ võngkiểm tra nứt cho dầm phụ cũng là yêu cầu bắt buộc theo tiêu chuẩn thiết kế.

4.1. Xác định tải trọng và nội lực cho hệ dầm phụ

Tải trọng tác dụng lên dầm phụ được quy về dạng tải phân bố đều trên suốt chiều dài dầm. Giá trị tải trọng này bằng tổng của trọng lượng bản thân phần sườn dầm và tải trọng từ bản sàn truyền sang. Tải trọng từ bản sàn được xác định bằng cách nhân tải trọng phân bố trên sàn (q) với chiều rộng diện truyền tải (bằng nửa nhịp của bản sàn ở mỗi bên dầm). Sau khi có tải trọng, việc vẽ biểu đồ bao mô men và biểu đồ lực cắt là cần thiết để xác định các giá trị nội lực lớn nhất dùng cho việc tính toán cốt thép chịu lực và cốt đai.

4.2. Tính toán cốt thép dọc và cốt thép đai cho dầm phụ

Cốt thép dọc được tính toán dựa trên giá trị mô men lớn nhất từ biểu đồ bao. Tại giữa nhịp (mô men dương), tính toán với tiết diện chữ T. Tại gối (mô men âm), tính toán với tiết diện chữ nhật. Cốt thép đai được tính toán để chịu lực cắt. Dựa vào biểu đồ lực cắt, xác định các vùng cần bố trí cốt đai theo tính toán (nơi có lực cắt lớn) và các vùng chỉ cần bố trí theo cấu tạo (nơi lực cắt nhỏ). Mật độ cốt đai thường dày hơn ở gần các gối đỡ và thưa hơn ở giữa nhịp, phản ánh đúng sự phân bố của lực cắt trong dầm. Việc cấu tạo cốt thép sàn và dầm phải tuân thủ các quy định về neo, cắt, nối thép.

V. Bí quyết cấu tạo cốt thép và hoàn thiện thiết kế sàn một phương

Hoàn thiện bản vẽ thiết kế sàn sườn có bản một phương bê tông cốt thép toàn khối không chỉ dừng lại ở việc tính toán đủ diện tích cốt thép. Việc cấu tạo cốt thép sàn và dầm một cách hợp lý, khoa học và tuân thủ tiêu chuẩn là yếu tố quyết định đến chất lượng và sự làm việc đồng bộ của kết cấu. Một số nguyên tắc cốt lõi cần tuân thủ bao gồm: đảm bảo chiều dày lớp bê tông bảo vệ theo quy định để chống ăn mòn; quy định rõ ràng về việc cắt và neo cốt thép chịu lực để tận dụng tối đa khả năng làm việc của vật liệu. Chẳng hạn, thép mũ chịu mô men âm trên gối phải được kéo dài ra một đoạn tối thiểu 1/4 nhịp về mỗi phía. Thép chịu mô men dương ở nhịp có thể được cắt bớt 50% ở những vùng có mô men nhỏ, nhưng phải đảm bảo neo đủ chiều dài vào gối. Ngoài ra, cần chú ý đến việc bố trí cốt thép tại các vị trí giao nhau giữa dầm chính và dầm phụ để tránh xung đột và đảm bảo khả năng truyền lực hiệu quả. Tài liệu của TS. Nguyễn Trường Thắng cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập biểu đồ bao vật liệu, một công cụ hữu ích giúp xác định vị trí cắt thép tối ưu, vừa đảm bảo an toàn chịu lực vừa tiết kiệm chi phí vật liệu. Cuối cùng, một bộ hồ sơ thiết kế hoàn chỉnh phải bao gồm các bản vẽ chi tiết, rõ ràng và bảng thống kê cốt thép chính xác, là cơ sở để đơn vị thi công triển khai đúng kỹ thuật.

5.1. Nguyên tắc cắt neo và nối cốt thép theo TCVN 5574 2018

Tiêu chuẩn TCVN 5574:2018 quy định rất chi tiết về chiều dài neo, nối và các vị trí được phép cắt cốt thép. Việc cắt thép phải dựa trên biểu đồ bao mô men và biểu đồ bao vật liệu. Thép chỉ được cắt ở những vùng mà nội lực đã giảm và phần thép còn lại vẫn đủ khả năng chịu lực. Chiều dài đoạn neo (lan) là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo sự truyền lực hiệu quả giữa bê tông và cốt thép. Các mối nối thép cần được bố trí tại những vùng có nội lực nhỏ và nên được nối so le để tránh làm suy yếu tiết diện tại một vị trí.

5.2. Sự khác biệt trong tính toán sàn một phương và sàn hai phương

Điểm khác biệt cơ bản giữa bản sàn làm việc một phươngsàn hai phương nằm ở tỷ lệ cạnh và sơ đồ truyền lực. Nếu sàn một phương (l2/l1 > 2) truyền lực chủ yếu theo phương cạnh ngắn, thì sàn hai phương (l2/l1 ≤ 2) truyền lực theo cả hai phương. Do đó, việc tính toán sàn bê tông cốt thép cho sàn hai phương phức tạp hơn, đòi hỏi phải xác định mô men theo cả hai phương và bố trí hai lớp cốt thép chịu lực vuông góc với nhau. Việc nhận diện đúng loại sàn ngay từ đầu là yếu tố tiên quyết để lựa chọn phương pháp tính toán phù hợp, tránh sai sót nghiêm trọng trong thiết kế.

15/07/2025
Design of cast in situ reinforced concrete one way slabes thiết kế sàn sườn có bản một phương bê tông cốt thép toàn khối ts nguyễn trường thắng

Trích đoạn nội dung tài liệu

NATIONAL UNIVERSITY OF CIVIL ENGINEERING (NUCE) DEPARTMENT OF CONCRETE STRUCTURES Nguyen Truong Thang DESIGN OF CAST-IN-SITU REINFORCED CONCRETE ONE - WAY SLABS THIET KE SAN SUON CO BAN MOT PHUONG BE TONG COT THEP TOAN KHOI NATIONAL UNIVERSITY OF CIVIL ENGINEERING (NUCE) DEPARTMENT OF CONCRETE STRUCTURES DESIGN OF CAST-IN-SITU REINFORCED CONCRETE ONE - WAY SLABS THIẾT KẾ SÀN SƯỜN CÓ BẢN MỘT PHƯƠNG BÊ TÔNG CỐT THÉP TOÀN KHỐI Nguyen Truong Thang Dr. ACPE (C&S) NHÀ XUẤT BẢN XÂY DỰNG HÀ NỘI - 2017 DESIGN OF CAST - IN - SITU REINFORCED CONCRETE ( THIET KE SAN SUONG CO BAN MOT PHUONG BE TONG COT THÉP TOÀN KHÓI) Nguyen Truong Thang; NHÀ XUÁT BẢN XÂY DỰNG 37 LÊ ĐẠI HÀNH ~ QUẬN HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI Điện thoại: 02437265180 Fax: 02439785233 Website: Nxbxaydung.vn Email: sachdientu@nxbxaydung.vn Văn phòng Đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh Địa chỉ: Lầu 4 tòa nhà văn phòng 159 Điện Biên Phủ, P. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Điện thoại: 028.7279 Chịu trách nhiệm phát hành xuất bản phẩm điện tử: Giám đốc — Tổng Biên tập: NGÔ ĐỨC VINH Chịu trách nhiệm nội dung: Giám đốc - Tổng Biên tập: NGÔ ĐỨC VINH Biên tập viên: ĐINH THỊ PHƯỢNG Thiết kế bìa: DANG HUYEN TRANG Trình bày: VU BINH MINH Xuất bản phẩm điện tử được đăng tải tại địa chỉ Website của Nhà xuất bản Xây dựng: nxbxaydung.vn Định dạng: PDF Dung lượng: 10,6 (MB) Số ĐKXB: 2273-2022/CXBIPH/97-222/XD cấp ngày 07 tháng 07 năm 2022 Mã ISBN: 978-604-82- 6759-9 QĐXB số: 371-2022/QĐ-XBSĐT-NXBXD ngày 08 tháng 07 năm 2022 QĐPH số: 371-2022/QĐÐ-PHSĐT-NXBXD ngày 12 tháng 07 năm 2022 PREFACE In practice, slabs are the horizontal and structural components in buildings that separate storey from storey and roof.

They can also be used as shallow foundation, cover or wall panels in liquid-containing tanks, technical floors in utility stations, desk slabs in bridges, etc. Cast-in-situ reinforced concrete (RC) slabs supported by beams or walls, so- called slab-and-beam systems, are commonly used in civil and industrial construction owing to the following advantages: (i) Good load bearing capacity; (ii) Good stiffness; (iii) Easy for maintenance; (iv) Good fire resistance; (v) Flexible for both indoor and outdoor use purposes, etc. In terms of structural behavior, the slab-and-beam system having four-side supported slab panels can be categorized into two types depending on aspect ratio, which is the ratio between the longer and the shorter sides of the rectangular slab panel. If the aspect ratio is higher than 2.0, the system can be referred to as one-way slabs, otherwise it will work as two-way slabs.

This book introduces the concept, calculation procedure and an example for the design in ultimate limit states of continuous beam-type slab panels, secondary beams and main beams of cast-in-situ RC one-way slabs to current national design standard for concrete structures TCVN 5574:2012. This is a continuity of a series of text books drafted and edited under the guidance of Department of concrete structures, Faculty of Building and Industrial Construction, National University of Civil Engineering (NUCE) and can be used for English-system students (XE, CDE, MNE, etc.) as well as for students from other engineering universities who study reinforced concrete structures and the associated subject projects or conduct final year projects. The book can also be used as a reference technical material for practice engineers when establishing structural calculation sheets and design reports, Jor site supervisors, and for contractors working in the construction projects that require Vietnamese-English bilingual documentation and technical communication. We appreciate all the feedbacks from readers based on which the book contents can be continuously improved in the subsequent publications.

All the comments please send to our postal address at Room No.311, Al building, National University of Civil Engineering (NUCE), No.55 Giai Phong Rả, Hanoi or to our email address: bm. The author CONTENTS Page F27140 6 6 nan 3 Chapter 1 CONCEPT OF CAST-IN-SITU RC SLAB-AND-BEAM SYSTEMS. 9 IN Ho on. Components of slab-and-beam sy§SLCTS.

Structural behavior of slab paneϧ.ce-seeehnhhhhhhrHidrtrrierer 10 sinh Hee 1. Behavior of slab pan€ÌS. One-way and two-way slab panel§.ceeeeeehehrrrrdrrrrrrrtin 1] ác sen HưhHhhhihH 1. Beams ín slab-and-beam syS{CIS.

Boundary walls and GOÏUTNS. cc: Ặ ch hd 14 Chapter 2 CALCULATION OF CAST-IN-SITU RC ONE-WAY SLABS. StructUraÌ SVSf€IN. + tt 22 HH 1442721 211e1trrrn 15 2.

Sizing ofslab compOn€nfS.ccerhhehhhhhhHrerrrrrrrrrrrriidre 16 SE 2n HH ghe Hà tt 17 2. Materlals ÍOr S{TUCTUF€S.- xe enhhhHHhhhhhhhhhHge me 2. Calculation of one-way slab pan€Ì§. Loading on one-way sÍAD.

Internal forces in beam-slab SfrID. cuc SHHà HH ig 20 2. Calculation Of relnÍOFC€IETE. sex chen Hư HH.

kh 21 erg yscerneenrencnemmmmernnennnonennanannanancasnsatn 23 2. Calculation of secondary beams.cc con re 25 HH 0011401111001 2. Loading on secondary beams. cv 21H 100111111 1 xe re rerse 27 2.

Calculation of longitudinal reinforcement for bending. Strength calculation on inclined sections. Calculation of main beams. Calculation diagram wo.

Loading on main beams. Internal forces of main beams .4, Calculation of longitudinal reinforcement for bending. Strength calculation on inclined sections. Calculation of reinforcement for breaking-off GREATEST anennnge tees iter nanncenenere 48 2.

Detailing requirements for beams. Detailing r€quir€In€Tit§. Anchorage length (/„„) of reinforcement to suppoFts. Curtailment of tension longitudinal rebars.

Matcrial resistance enVelOpe. Design requirement for cracks and đefromation. 54 Chapter 3 DESIGN EXAMPLE ON CAST-IN-SITU RC ONE-WAY SLABS. DROS CUA cr usassnesnesnnsnzas inanasnnennanenenenonnevenwsewerauipyemsnsstscastipitisiteemnsveoeseeseedbone 56 3.

Design of one-way slab panels. Analysis of the structural syS{em. Sizing for structural rineribors 3 57 3. HH HH2 1112111111111 tre eo 58 3.

Calculation of reinforcement for bending. Design of secondary beams.TH HH it 62 3.312400536 T655G101EBELEEGG TOSTHOGIĐXSUDEOSI14T9911411080 63 kh Nho 6n. Calculation of reinforcement for bending (longitudinal rebars). Calculation of reinforcement for shear oo.

cece cece eeeeeeeeeeeeneeeness 67 3. Establishing of material resistance env€ÌOD€. Anchorage of longitudinal reDaFS. cành rate teseneneeeees 74 3.

Distrlbution r€lnfOrC€ITTI. vn HH HH ng nhi ret 74 3. Design of main beams. Calculation dia8rA.

ca nenheeerieriee rieri E01 G0 0011060111411411131 414304 77 3. Calculation of reinforcement for bending (longitudinal rebars). Calculation of reinforcement for shear. eee ec chen 2 ng re 86 3.

Calculatlon of reinforcement for breaking-OfT. Establishing of material resistance €nVeÌOD€. Anchorage of longitudinal r€ÐATB. HH 01 111 kg tr HH HH TH.

Bill oŸ quantiEW. 552553 101 1/0184G165EEEET12 6858550E10351508 G51 00085S039111WE0101 REFERENCES.csccssSS-vsecscc+S213288866Đ011 5 113 Chapter 1 CONCEPT OF CAST-IN-SITU RC SLAB-AND-BEAM SYSTEMS —— 1. INTRODUCTION Cast-in-situ reinforced concrete (RC) slab-and-beam systems are commonly used for floors of buildings, especially for spans of greater than 6m and for heavy live loads [7]. There are various configurations of the systems such as one-way solid slabs with main beams, one-way slabs with main and secondary beams, two-way slab with main beams, waffle with main beams, and waffle with integral beams, which are respectively shown in Figures 1.1, Perspective of cast-in-situ slab-and-beam systems: (a) One-way solid slabs with main beams; (b) One-way slabs with main and secondary beams; (c) Two-way slab with main beams; (d) Waffle with main beams, (e) Waffle with integral beams.

COMPONENTS OF SLAB-AND-BEAM SYSTEMS Cast-in-situ reinforced concrete (RC) slab-and-beam systems consist of main components including slab panels and beams, which are in turn supported by columns and walls. Some layouts of slab-and-beam systems and the main components are shown in Figure 1. Layouts of cast-in-situ slab-and-beam systems: 1- Slab panel; 2- Beam; 3 - Column; 4 - Boundary brace; 5 Boundary wall. STRUCTURAL BEHAVIOR OF SLAB PANELS 1.

Behavior of slab panels As a main component of the system, slab panels directly support loads and transmi t them to the nearest beams or walls. In the cast-in-situ slab-and-beam floor systems, 10 slab panels connect beams together to form an overall structural system with relatively high in-plane stiffness which is capable of transferring lateral loads. Beams arranged along perpendicular grid lines divide the slabs into rectangular panels with the shorter and longer sides namely /, and 4, respectively. Slab panels are usually in horizontal direction.

When subjected to gravity load that is normal to the panel surface, depending on the connections along the panel sides and the aspect ratio /,//,, the slab panel will bend either in one or two directions on its surface plane with sagging or hogging bending moments. % pa a) b) Z Mo TTT” "HHI| \M \ Mr Figure 1. Behavior of slab panel: a) Panel bent in one direction; b) Panel bent in two directions. One-way and two-way slab panels - With the supports along two opposite sides or fixed connections along one side whereas the remaining three sides are free, the slab panels will bend in one direction when subjected to perpendicular loads (Figure 1.

There is only bending moment in one direction in the panel then all the loads are transmitted in one direction to the supports, so-called one-way slab panels. Assumed that the slab panel is divided into 1m-wide strips along the bending direction, each strip will work as a beam. - In case there are supports along three or four sides, the slab panels will bend in two directions when subjected to perpendicular loadings (Figure 1. There will be 11 bending moments in both directions in the panel.

However, with the four-side supported slab panels, there is an additional condition to be considered: + Ifthe aspect ratio ///; is greater than 2.0, it is proved that the loads transmitted along the longer sides to the shorter edges (q) is at least 16 times smaller than those transmitted along the shorter sides to the longer edges (g,) and can be assumed to be ignorable. In this case, the panel can also be referred to as one- way Slabs. + If the aspect ratio ///, is smaller than 2.0, the difference between the loads transmitted in two directions is not significant and these loads have to be both taken into account. In this case, the panel can be referred to as two-way slabs.

BEAMS IN SLAB-AND-BEAM SYSTEMS Beams are arranged to support and receive loads from slab panels, then transmit them to other load bearing structures such as beams, columns or walls. Beams divide slab panels into smaller cells to limit internal forces and displacements. Beams also contribute to the overall stiffness of the system. There are beams supporting other smaller beams and transmitting loads to columns or walls.

They can be named as main beams, primary beams or girders. The other beams that are supported by primary beams can be referred to as secondary beams. There are various ways to arrange beams in slab-and-beam systems, which account for the following issues: - The ability to allocate the beam supports, such as columns and walls; - The distances between beams are dependent on the value of service loads. If the dimensions of slab panels is large, high internal forces and displacements will increase the cost of materials but make the construction simpler since the number of beams are reduced and vice versa, if the dimensions of slab panels is small, the construction cost will be increased due to higher number of beams, but the cost for materials will be reduced owing to small internal forces and displacements.

Hence, reasonable distances between beams should be considered. - If the slab-and-beam system is subjected to uniformly distributed loads (UDL), the beam distances should be identical. If there are also concentrated loads arranged in lines (such as wall partitions) or point loads, beams should be located in such positions. Then, the beam distances in each direction may not be similar.

12 A number of solutions for beam arrangement are shown in Figure 1. Solutions for beams arrangement Ị In Figure 1.4(a), since the slab is relatively narrow, beams should be arranged along one direction.4(b), beams are arranged along both directions, with columns at intersections. Slab panels are relatively large and /;</,<2h, all the beams can be considered to act on the same level.4(c,d), beams are also arranged along both directions but are leveled into primary and secondary beams. The secondary beams support slab panels and are supported by main beams.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ