Đặt vấn đề T2 74 I. Thực trạng pháp luật thương mại Việt nam 2. Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật thương mại trước yêu cầu hội nhập kinh tế khu vực và thế giới 88 3. Hoàn thiện pháp luật thương mại với việc thực hiện chương trình AFTA/CEPT 101 CHUYÊN ĐỀ 4: PHÁP LUẬT VỀ THUẾ CỦA VIỆT NAM VÀ VIỆC THỤC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH AFTA/ CEPT 108 1.
Vài nét về cơ sở tồn tại của chính sách thuế hiện hành ở Việt nam 108 2. Thực trạng pháp luật về thuế hiện hành ở Việt nam và thực tiễn áp dụng 110 3. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về thuế của Việt nam nhằm 128 triển khai thực hiện các yêu cầu cơ bản của AFTA/CEPT CHUYÊN ĐỀ 5: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIÊN THAM GIA AFTA/CEPT 138 I. Tác động của việc gia nhập AFTA/CEPT đến lĩnh vực lao động và yêu cầu đặt ra đối với pháp luật lao động Việt nam 138 1.
Tác động của việc gia nhập AFTAva việc thự hiện chương trình CEPT đến lĩnh vực lao động ở Việt nam 138 2. Yêu cầu cơ bản đối với pháp luật lao động Việt nam trong điều kiện thực hiện chương trình AFTA/CEPT 144 Il. — Thực trạng pháp luật lao động hiện hành ở nước ta về những vấn đề có liên quan 148 1. Về vấn đề học nghề 148 2.
Về lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao 151 3. Vé viéc lam va giai quyét viéc lam 152 4. Về chế độ chính sách đối với người lao động có hợp đồng lao động chấm dứt (chấm dứt quan hệ lao động) 153 Ill. Một sô kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật lao động trong điều kiện thực hiện chương trình AFTA/CEPT 154 BẢO CÁO PHÚC TRÌNH KẾT QUA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI A.
PHẦN THỨNHẤT SỰ CAN THIẾT'VÀ MỤC DICH NGHIÊN CỨU DE TÀI I. SUCAN THIẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Xu thế chung trong quan hệ quốc tế hiện nay là sự xích lại gần nhau trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa các quốc gia. Hợp tác nhằm phát triển kinh tế đã và đang là yêu cầu chiến lược của nhiều quốc gia. Đứng trước những thuận lợi, thách thức của quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, trước nguy cơ tụt hậu nếu "đóng cửa", sự lựa chọn đúng đắn nhất đối với mỗi quốc gia là thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Nói cách khác, hội nhập kinh tế quốc tế của mỗi quốc gia là quá trình mang tính tất yếu. Quá trình này đo yêu cầu bên trong của mỗi quốc gia và do xu hướng phát triển kinh tế thế giới quyết định. Thực tế thời gian qua cho thấy mỗi đất nước dù có bao nhiêu tác động chủ quan thì cuối cùng bánh xe lịch sử cũng tiến đến kinh tế thị trường, cũng phải mở cửa nền kinh tế để bổ sung, giải quyết những nguồn lực còn thiếu (hoặc thừa) của mình. Xét về phạm vi hay quy mô, hội nhập kinh tế quốc tế được thực hiện ở phạm vi khu vực (hội nhập kinh tế khu vực) và phạm vi toàn cầu (hội nhập kinh tế toàn cầu).
Hội nhập kinh tế khu vực là sự thống nhất ý chí của một nhóm quốc gia có cùng không gian lãnh thổ, cùng thống nhất hành động trong hoạt động xuất- nhập khẩu hàng hoá theo những quy định chung nhằm tạo điều kiện cho các hàng hoá được tự do di chuyển giữa các quốc gia đó một cách thuận lợi hơn. Những quy định chung nêu trên trong điều kiện vấn đề biên giới, chủ quyền quốc gia còn có ý nghĩa quan trọng thì phải được thực hiện bằng những cam kết, những hiệp định thương mại. Biểu hiện của hội nhập kinh tế khu vực là việc giảm thiểu các hàng rào thương mại về mọi mặt cả kinh tế, hành chính, kỹ thuật và áp dụng những hoạt động khuyến khích hỗ trợ nhằm thúc đẩy tự do buôn bán hàng hoá trong một khu vực hạn chế về không gian, lãnh thổ nhất định. Cho đến nay thị trường thế giới bao gồm I nhiều thị trường khu vực.
Mỗi thị trường khu vực có những nét riêng, song có thể phân biệt chúng tuỳ theo mức độ gắn kết giữa các quốc gia thành viên trong buôn bán với các quốc gia khác trên thị trường thế giới, ví dụ: Khu vực mậu dịch tự đo; Liên minh thuế quan; Thị trường chung và Liên minh tiền tệ, trong đó Liên minh tiền tệ thể hiện mức độ gắn kết giữa các thành viên đã ở mức cao nhất. Mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế khu vực và hội nhập kinh tế toàn cầu thể hiện tương quan giữa phạm vi hẹp và phạm vi rộng của quá trình hội nhập kinh tế quốc gia, trong đó hội nhập kinh tế khu vực là một nấc thang, một phạm vi quốc tế hoá đời sống kinh tế quốc gia trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu. Hội nhập kinh tế toàn cầu làm hình thành thị trường thế giới thống nhất, không có sự phân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế với mọi quốc gia, san lấp sự khác biệt về lợi ích quốc gia, lợi ích khu vực. Trong khi đó, hội nhập kinh tế khu vực lại chia cắt thị trường thế giới thành những mảnh, mảng khác nhau, duy trì sự phân biệt đối xử trong buôn bán giữa các thành viên trong và ngoài thị trường khu vực.
Không phải hoàn toàn đúng cho mọi trường hợp, song hội nhập kinh tế khu vực có ý nghĩa như là quá trình tập dượt, bước chuẩn bi cho quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu. Ngugc lại, hội nhập kinh tế toàn cầu là định hướng, là triển vọng tương lai của hội nhập kinh tế khu vực khi năng lực cạnh tranh của quốc gia đã mạnh lên. Tuy nhiên hội nhập kinh tế khu vực vẫn là bước đi ban đầu cần thiết cho những quốc gia đang phát triển trước khi bước vào quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu. Ý thức được những yêu cầu khách quan nêu trên, ngay từ thời gian đầu tại Đại hội đảng lần thứ VI, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: để phát huy được lợi thế so sánh của đất nước, nền kinh tế Việt nam cần phát triển theo hướng kinh tế thị trường, theo cơ cấu "mo"; gắn thị trường dân tộc với thị trường quốc tế, gắn nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới.
Từ đó các Nghị quyết Đại hội Đảng tiếp theo đều tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán: tích cực và chủ động thâm nhập, mở rộng thị trường quốc tế. Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2020 cũng đã xác định rõ quan điểm về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trên nguyên tắc giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ quyền quốc gia và bản sắc văn hoá dân tộc; bình đẳng, cùng có lợi, vừa hợp tác vừa đấu tranh; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế. Đồng thời xác định chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam là hướng mạnh vào xuất khẩu, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư nước ngoài. Trong việc hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, Chiến lược nhấn mạnh nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020 là phải "thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền hạn thành viên của nước ta trong các tổ chức quốc tế; gia nhập các tổ chức và hiệp hội kinh tế quốc tế khác khi cần thiết và có điều kiện”.
Thực hiện chủ trương nêu trên, bắt đầu từ khoảng hơn 10 năm trở lại đây, Việt nam đã từng bước tham gia hội nhập kinh tế quốc tế nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tránh nguy cơ tụt hậu và để thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác. Một trong những biểu hiện quan trọng của hoạt động hội nhập kinh tế quốc té là việc Việt Nam đã chính thức tham gia AFTA, thực hiện Hiệp định ưu dai thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) từ 1996, sau khi đã trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN vào tháng 7 năm 1995. Đây là một hình thức hội nhập kinh tế khu vực của Việt nam mà thông qua đó việc buôn bán hàng hoá giữa các nước thành viên sẽ được thực hiện một cách tựdo, bởi các công cụ bảo hộ mậu dịch như thuế quan và các công cụ phi quan thuế dần dần được dỡ bỏ. Đây là bước chuẩn bị, tập dượt để Việt Nam tiến tới mục tiêu lớn hơn là hội nhập kinh tế toàn cầu thông qua việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) sau khi đã nộp đơn vào năm 1995.
Tuy nhiên, để có thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền hạn thành viên của mình trong tổ chức này, Việt Nam phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau. Ngày 27/11/2001 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW về hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng với việc đánh giá những mặt được và những mặt yếu kém đang còn tồn tại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, Nghị quyết đã đề ra 5 quan điểm chỉ đạo và một số nhiệm vụ cụ thể. Một trong những vấn dé quan trọng được đặt ra là việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ quá trình hội nhập kinh tế.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu một cách có hệ thống về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) cũng như xem xét đánh giá thực trạng về một số định chế pháp luật kinh tế cơ bản của nước ta nhằm rút ra những ưu điểm, bất cập trước yêu cầu hội nhập kinh tế khu vực và thực hiện chương trình AFTA/CEPT là điều cần thiết và có ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn sâu sắc. MỤC DICH NGHIÊN CÚU ĐỀ TÀI Việc nghiên cứu đề tài nêu trên nhằm: Thứ nhất, làm rõ những vấn dé cơ bản về Khu vực mau dịch tự do ASEAN (AFTA) như sự ra đời của AFTA cùng với những mục tiêu của nó; cơ chế chủ yếu để thực hiện AFTA là Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT); đồng thời điểm qua tiến trình thực hiện AFTA của Việt Nam, từ đó rút ra một số kinh nghiệm từ chính quá trình đó sau hơn nửa thời gian thực hiện theo quy định.