Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn của DH kết hợp và phát triển NLTH cho HS THPT. Chương 2 : Phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chủ đề Nguyên tố nhóm VIIA theo mô hình dạy học kết hợp. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC KẾT HỢP VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG 1.
Lịch sử nghiên cứu về dạy học kết hợp và phát triển năng lực tự học cho học sinh phổ thông 1. Lịch sử nghiên cứu về năng lực tự học Trên thế giới, việc bồi dƣỡng và phát triển NLTH cho ngƣời học luôn đƣợc quan tâm và chú trọng trong quá trình dạy và học. Trải qua các thời kì lịch sử càng khẳng định vai trò của cá nhân trong quá trình tự học, tự nghiên cứu, tự lĩnh hội kiến thức, ngƣời dạy chỉ đóng vai trò tổ chức các hoạt động học nhằm khơi gợi, phát huy những năng lực tiềm ẩn bên trong ngƣời học. Trong nền giáo dục phƣơng Đông cổ đại, Khổng Tử (551-479 TCN) luôn coi trọng việc tự tìm hiểu, tự phát hiện của học trò để phát triển tƣ duy và trí tuệ của họ.
Thầy là ngƣời nâng đỡ giúp trò cái thiết yếu nhất, còn trò phải từ đó mà tự tìm ra mọi vấn đề khác, ngƣời thầy không đƣợc làm thay học trò [11]. Mạnh Tử (372-289 TCN) cũng đƣa ra quan điểm đòi hỏi ngƣời học phải tự suy nghĩ, tự cố gắng tìm hiểu, chứ không nên cứ nhắm mắt theo sách: “cả tin ở sách thì chi bằng không có sách”. Ông ví ngƣời dạy học nhƣ ngƣời dạy bắn cung, chỉ kéo thẳng dây cung mà không bắn tên đi hộ, tự ngƣời bắn phải bắn lấy [4]. Trong nền giáo dục phƣơng Tây cổ đại, ý tƣởng dạy học coi trọng ngƣời học và trao quyền tự chủ cho ngƣời học đã đƣợc chú ý đến.
Phƣơng pháp giảng dạy của Heraclitus (530-475), Socrate (469-390), Aristote (384-322) nhằm mục đích phát hiện chân lý bằng cách đặt câu hỏi để ngƣời học tự tìm ra kết luận. Sau đó cùng sự phát triển của lịch sử và nhận thức xã hội mà ý tƣởng này tiếp tục phát triển. Jonh Locke (1632), ngƣời Anh yêu cầu ngƣời thầy giáo phải gợi ý tò mò của HS. Đây đƣợc coi là một trong những phẩm chất quan trọng nhất của TH.
Ông nói: “Tò mò là cái lợi khí lớn nhất của tự nhiên dùng để sửa cái dốt nát của chúng ta” [5]. 5 Đến đầu thể kỷ XXI, TH và bồi dƣỡng NLTH đã đƣợc nhiều nhà giáo dục quan tâm và đƣa ra các biện pháp giúp HS hình thành và phát triển năng lực tự học. Trong cuốn sách “Học tập một cách thông minh” của Michael Shayer và Philip Adey, các tác giả đã chỉ ra cần phải chú trọng vào tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của HS từ đó đƣa ra các những biện pháp phù hợp giúp đỡ các em trong quá trình TH [41]. Jaime León, Elena Medina-Garrido và Miriam Ortega đã chứng minh việc quản lý học tập và tƣơng tác của GV với HS sẽ ảnh hƣởng đến động lực và sự tích cực của HS [38].
Nhƣ vậy, qua các nghiên cứu tiêu biểu của các nhà giáo dục thế giới về năng lực tự học và phát triển năng lực tự học, chúng tôi nhận thấy: tự học đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kỹ năng học tập và nâng cao trình độ kiến thức của mỗi cá nhân, là yếu tố quyết định cho xu hƣớng học tập suốt đời của mỗi cá nhân trong xã hội hiện đại. Việc phát triển NLTH là vô cùng cần thiết, giúp họ trở thành những ngƣời học tập hiệu quả và tự chủ. - Ở Việt Nam: Trải qua các thời kì phong kiến và Pháp thuộc, nền giáo dục còn lạc hậu. Việc học đƣợc thực hiện chủ yếu dƣới hình thức ghi nhớ, học thuộc máy móc, phụ thuộc vào ngƣời thầy.
Trong giai đoạn này, TH trong giáo dục và phát triển NLTH cho ngƣời học vẫn chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu [23]. Từ những năm 90 của thế kỉ XX, các tài liệu về lý luận dạy học, nhiều ấn phẩm đã viết về TH nhƣ là một hình thức tổ chức dạy học, nhằm vạch ra lý luận cơ bản về TH cho ngƣời học, giúp ngƣời học ý thức hơn vào các hoạt động học tập. Các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Thị Tính [18], Trịnh Quang Từ [28], Nguyễn Đình Xuân [30] nghiên cứu về TH, biện pháp tổ chức HĐTH. Trong các tác phẩm“Quá trình dạy tự học”,“Học và dạy cách học”, Nguyễn Cảnh Toàn và cộng sự đã vạch ra cơ sở lý luận về dạy học TH và TH.
Theo tác giả, quy trình dạy TH đƣợc diễn ra qua ba giai đoạn: (1) Nghiên cứu tác nhân; (2) Hợp tác; (3) Tự kiểm tra, tự điều chỉnh [25],[19]. “Nếu phát huy được tính tích cực, chủ động, trên cơ sở xác định động cơ đúng đắn thì người học hoàn toàn có thể tự mình hoàn thành nhiệm vụ học tập” và trong tự học “người học nên học cách học với 6 thầy trước sau đó hãy tự học hoàn toàn”[22], [26]. Nhóm tác giả Hồ Thị Loan, Nguyễn Thị Hồng Phƣợng [14] đề xuất một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh ở trƣờng phổ thông (1) Tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm kết hợp với thảo luận trong giờ học; (2) Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh; (3) Hƣớng dẫn học sinh cách xây dựng kế hoạch học tập; (4) Hƣớng dẫn học sinh cách tự đọc sách giáo khoa. Các nghiên cứu đều làm rõ tính cấp thiết, các cơ sở khoa học của TH và tính khả thi của dạy cách TH.
Và gần đây, chƣơng trình GDPT tổng thể [1] cũng đã xác định NLTH (trong NL tự chủ và TH) là một trong những năng lực chung quan trọng nhất cần phát triển cho HS. Lịch sử nghiên cứu về dạy học kết hợp - Trên thế giới: Công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng của đã tác động mạnh mẽ đến giáo dục, mở ra một kho tàng kiến thức đa dạng và phong phú cho ngƣời học và ngƣời dạy, giúp cho việc tìm hiểu kiến thức trở nên thuận tiện, đơn giản, cải thiện chất lƣợng học và dạy. Hình thức học tập trực tuyến giúp ngƣời học chủ động học tập và tiếp cận với kiến thức mà không bị giới hạn bởi không gian, thời gian. Tuy nhiên việc học tập trực tuyến vẫn có hạn chế nhất định.
Sikora [43] chỉ ra rằng ngƣời học ít hài lòng với các khóa học trực tuyến khác với các khóa học truyền thống và cần kết hợp thống nhất chúng để khai thác lợi thế của cả hai. Từ những năm 2000, mô hình dạy học kết hợp (Blended learning) đã đƣợc vận dụng ở nhiều nƣớc Bắc Mỹ, Tây u, Châu Á và Châu Đại Dƣơng [4], đã có nhiều nghiên cứu vận dụng DHKH trong thực tiễn giáo dục ở các cấp học của nhà trƣờng và đào tạo nhân lực của các công ty. Theo Cơ quan Đào tạo quốc gia Úc (ANTA, 2003): “Dạy học kết hợp (DHKH) là sự kết hợp của phƣơng pháp tiếp cận dạy học truyền thống với dạy học trực tuyến dựa trên Web” [47]. Theo Dziban và Moskal (Đức, 2004): “DHKH nên đƣợc xem nhƣ là một phƣơng pháp sƣ phạm kết hợp hiệu quả và xã hội hóa các cơ hội của các lớp học với các khả năng học tập tích cực về công nghệ nâng cao của trực tuyến chứ không phải là một tỉ lệ các phƣơng thức giao bài” [48].
7 Ngoài ra, các nghiên cứu về DHKH của Yapici I. (2020) [36] chỉ ra đƣợc hiệu quả của việc DHKH đến thành tích học tập và giúp học sinh cải thiện tƣ duy phản biện, có thái độ tích cực, tự tin hơn trong quá trình học. Ngày nay, ở nhiều nƣớc trên thế giới, dạy học kết hợp là mô hình đƣợc áp dụng từ bậc tiểu học. Hầu hết các quốc gia đều nhận ra lợi ích của học tập kết hợp.
Đặc biệt đối với học sinh phổ thông, học tập kết hợp giúp việc học trở nên thú vị hơn, mang đến cho học sinh môi trƣờng học tập cá nhân hóa, cho phép học sinh tự tìm kiếm và lĩnh hội kiến thức, sử dụng tài liệu học tập phù hợp để thu hút sự chú ý và hứng thú của học sinh. - Ở Việt Nam: Trong bối cảnh công nghiệp 4.0, việc xây dựng và phát triển phƣơng thức đào tạo trực tuyến nhằm nâng cao năng lực chất lƣợng giảng dạy trực tuyến tại Việt Nam đang thể hiện là một hƣớng đi phù hợp và nhận đƣợc sự quan tâm của các trƣờng đại học trong việc phát triển khung chƣơng trình đào tạo. Các trƣờng đại học tại Việt Nam bƣớc đầu nghiên cứu và triển khai dạy trực tuyến từ năm 2002 trở lại đây, thông qua bƣớc đầu tiên là tổ chức các hội thảo về phƣơng thức đào tạo trực tuyến. Hiện nay, một số cơ sở đào tạo đã khai thác các phần mềm trong đào tạo và thu đƣợc hiệu quả nhất định, điển hình nhƣ: Trƣờng đại học Kinh tế quốc dân, Trƣờng đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trƣờng Đại học Bách khoa – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,.
Gần đây, Trung tâm Tin học Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát triển cổng E-learning nhằm cung cấp một cách có hệ thống thông tin E-learning trên toàn cầu. Ngoài ra, Việt Nam đã gia nhập mạng E-learning châu Á (Asia E-Learning Network - AEN) với sự hỗ trợ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông,. Điều này cho thấy đào tạo trực tuyến đang rất đƣợc quan tâm ở Việt Nam. Theo thông tƣ số 12/2016/TT-BGDĐT ngày 22/4/2016, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đƣa ra quy định về việc "Ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo qua mạng là việc sử dụng các trang thiết bị điện tử, phần mềm, học liệu điện tử và mạng viễn 8 thông (chủ yếu là mạng internet) hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nhằm đổi mới phƣơng pháp dạy - học, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, một số mô hình ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo qua mạng phổ biến là: Đào tạo kết hợp - Blended learning, học tập điện tử E-Learning".
DHKH đã đƣợc một số các tác giả trong nƣớc nghiên cứu. Tác giả Nguyễn Văn Hiền đƣa ra một khái niệm tƣơng tự là "Học tập hỗn hợp" để chỉ hình thức kết hợp giữa cách học truyền thống với học tập có sự hỗ trợ của công nghệ, học tập qua mạng [7] .