mở đầu cho các nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn về bản chất của điện. Liên quan tới việc sử dụng kiến thức phần Dòng điện không đổi – Dòng điện, mạch điện vào phát triển lí luận dạy học, theo tìm hiểu của tác giả, hiện đã có một số các đề tài luận văn thạc sử dụng phần kiến thức này để giải quyết các vấn đề như: xây dựng đề kiểm tra đánh giá, tổ chức dạy học phát triển năng lực chung… Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào sử dụng nội dung này để phát triển năng lực tự học của học sinh. Có thể nêu một số đề tài cụ thể sau: - Lê Trần Nguyệt Vi (2018), Tổ chức các hoạt động học tập trong dạy học chương Dòng điện không đổi – Vật lí 11 nhằm phát triển năng lực Vật lí của học sinh, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, ĐH Sư phạm – ĐH Đà Nẵng. - Đỗ Thị Thùy Dương (2020), Xây dựng một số đề kiểm tra đánh giá trên lớp học và vận dụng trong dạy học chương “Dòng điện không đổi”, Vật lí lớp 11 cơ bản, Luận văn thạc sĩ sư phạm Vật lí, ĐH Giáo dục.
Như vậy, theo tìm hiểu tác giả chưa thấy có đề tài nào nghiên cứu về việc bồi dưỡng và phát triển NLTH cho học sinh thông qua dạy học phần Dòng điện không đổi Vật lí THPT. Bởi vậy, nghiên cứu đề tài này đáng được tiến hành và sẽ đóng góp phần nào trong việc cải thiện chất lượng dạy - học tại các trường THPT trong giai đoạn hiện tại. Tóm lại, đề tài “Thiết kế và tổ chức dạy học phần Dòng điện, mạch điện - Vật lí trung học phổ thông theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh” sẽ tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu hình thành năng lực tự học cho học sinh, phù hợp với yêu cầu và mục tiêu dạy học hiện nay. Nghiên cứu này cũng đảm bảo tính riêng và không trùng lặp với các nghiên cứu trước đây.
Trong phần tiếp theo, tác giả sẽ trình bày các vấn đề lí thuyết cốt lõi liên quan tới nhiệm vụ của đề tài, bao gồm những kiến thức về tự học và năng lực tự học. Năng lực và năng lực tự học 1. Khái niệm năng lực Trước khi đi vào định nghĩa NLTH, chúng tôi sẽ giải thích và phân tích rõ một số khái niệm về NL và TH xuất hiện trên thế giới và ở Việt Nam. Nói về khái niệm NL, trong giai đoạn gần đây, khái niệm này đang ngày càng trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như tâm lí, kinh tế, y học… đặc biệt được sử dụng nhiều trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo.
Thuật ngữ "năng lực" (có thể được gọi là "competency" hoặc "competence") xuất phát từ ngôn ngữ La tinh với từ gốc "competentia". Ngoài ra, theo từ điển Anh – Việt, một số từ “ability”, “capability” cũng được dịch là NL (dẫn theo [4]). Ngoài ra trên thế giới, cũng có một số mô hình được phát triển nhằm giải thích khái niệm năng lực, điển hình có thể kể tới là mô hình năng lực SKA (Skills, Knowledge, Attitude), được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như tuyển dụng, đào tạo, phát triển nghề nghiệp và quản lý nhân sự. Mô hình này được đề xuất đầu tiên bởi nhà tâm lý học và giáo dục người Mỹ Benjamin Bloom vào năm 1956 [20].
Sau đó, nhà tâm lý học và giáo dục người Mỹ David McClelland vào những năm 1970 đã phát triển ý tưởng này, từ đó ông đã đề xuất rằng thay vì đánh giá trí tuệ thông qua những bài kiểm tra trắc nghiệm truyền thống, chúng ta nên đánh giá năng lực của một người thông qua các kỹ năng, kiến thức và thái độ của họ để giải quyết các vấn đề thực tế [25]. Ngày nay, thuật ngữ NL đã được thể chế hóa trong chính sách GD&ĐT của nhiều quốc gia, trở thành trở thành trọng tâm của nhiều nghiên cứu về các hiệu quả đào tạo và phát triển nguồn lực con người. Dưới đây, tác giả xin thống kê một số cách định nghĩa gần đây, có liên quan mật thiết đến lĩnh vực giáo dục về NL để nhằm làm rõ khái niệm này. - Dựa theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) trong năm 2002, khái niệm về NL được định nghĩa như "khả năng hiệu quả để thích ứng với các yêu cầu phức tạp trong một ngữ cảnh cụ thể".
(dẫn theo [10]) - Theo hệ thống giáo dục tại New Zealand, khái niệm về NL được xác định như "khả năng thực hiện hành động hiệu quả hoặc thể hiện phản ứng thích đáng trong các tình huống có tính phức tạp". Hai định nghĩa này cơ bản đã xác 9 định đúng đích của NL là tính hiệu quả, tuy nhiên lại chưa nêu được cấu trúc bên trong của NL. - Dựa theo quan điểm được Weinert F. Đóng góp của định nghĩa này đã nêu được các yếu tố nội hàm cấu trúc của NL như các yếu tố sẵn có của cá nhân và thái độ của họ.
- Một quan điểm khác về khái niệm NL được đề xuất bởi Tremblay Denyse vào năm 2002 nhấn mạnh đến “khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống” [23] - Một định nghĩa cụ thể hơn về NL được áp dụng trong chương trình Giáo dục trung học tại Québec, Canada vào năm 2004, xác định NL là “khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” [26]. Trong đó, để đạt được hiệu quả công việc cần sự cố gắng và dựa trên nhiều nguồn tài nguyên. Các tài nguyên này được hiện thực hóa một cách cân đối và hợp lý, bao gồm tất cả khía cạnh được tạo ra từ môi trường học tập cũng như tận dụng những trải nghiệm thực tiễn của học sinh. Đây bao hàm những kỹ năng chuyên môn, thái độ học tập và sự ham muốn tiến bộ.
Bên cạnh đó, còn tồn tại những tài nguyên ngoại vi quan trọng, như cộng đồng lớp học, người hướng dẫn và các chuyên gia, cũng như các nguồn thông tin bên ngoài, đều đóng góp vào quá trình học tập và phát triển cá nhân của học sinh. Những định nghĩa trên đã nêu ra được điểm mấu chốt quan trọng nhất của NL đó là hành động của con người. - Dựa trên chương trình giáo dục của Indonesia, khái niệm về năng lực được định nghĩa như sau: “Năng lực là những kiến thức (knowledge), kĩ năng (skill) và các giá trị (values) được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân. Thói quen tư duy và hành động kiên trì, liên tục có thể giúp một người trở nên 10 có năng lực, với ý nghĩa làm một việc gì đó trên cơ sở có kiến thức, kĩ năng và các giá trị cơ bản.
Những định nghĩa này cơ bản đã nêu được các yếu tố cấu thành nên NL, đó là các kiến thức, kĩ năng và giá trị. Có thể nói khái niệm NL đã được sử dụng nhiều trong giáo dục và đào tạo, vấn đề NL và bồi dưỡng phát triển NL đã được đề cập và nhấn mạnh trong mục tiêu giáo dục của nhiều quốc gia. Trong bối cảnh đó, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng, bắt kịp xu thế chung của thế giới, Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể 2018 của Việt Nam đã được ban hành. Theo đó, khái niệm NL được giải thích như sau: “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân như hứng thú, niềm tin, ý chí… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
Nói tóm lại, những định nghĩa này đã đề cập đến cấu trúc cơ bản của NL và đích đến của người có NL là phải thực hiện thành công một hoạt động nào đó. Dựa trên các nghiên cứu đã tiến hành, có thể tóm tắt rằng: Năng lực đóng vai trò quan trọng trong đặc thù cá nhân của con người, bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ (như hứng thú, ý chí, kiên trì.) được thể hiện qua hành vi, tư duy và thói quen của người đó. Quá trình hình thành và phát triển NL đậm chất cá nhân và là kết quả của tố chất ban đầu cùng với sự tương tác với môi trường học tập, sự rèn luyện và trải nghiệm thực tế. NL cho phép con người thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ cụ thể và đạt được kết quả mong muốn dưới những điều kiện xác định.
Các đặc điểm cơ bản của Năng lực được phân tích như sau: - NL là kết quả tổng hoà của kiến thức, kỹ năng và thái độ. - NL là sản phẩm của sự phối hợp giữa tố chất cá nhân và quá trình rèn luyện. - Quá trình phát triển NL được thể hiện thông qua những hoạt động thực tiễn và các tình huống xác định, và được thể hiện thông qua sự thành công trong những hoạt động đó. 1: Mô hình cấu trúc năng lực Từ các đặc điểm trên chúng tôi nhận thấy NL có cấu trúc bao gồm ba thành phần: kiến thức, kĩ năng và thái độ, tất cả được nhúng trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó hay còn gọi là bối cảnh thực tế.
Đối với giáo dục, bối cảnh thực tế đặt vào được coi là công cụ để rèn luyện, phát triển các thành phần của NL, qua đó giúp phát triển được NL. Các hoạt động tổ chức trong quá trình dạy học của người thầy chính là tập hợp những cơ hội tạo ra để người học hình thành và phát triển những NL của bản thân họ. Cơ hội để người học trải nghiệm càng nhiều, người học càng có thời gian thực hành và rèn luyện các NL càng nhiều. Khi đó, ta nói rằng các NL của HS càng phát triển, đây cũng là logic trong dạy học phát triển NL nói chung.
Phần tiếp theo, chúng ta sẽ đi tìm hiểu về các NL được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, qua đó thể hiện mục tiêu hướng tới là nhất thiết phải dạy học phát triển NL của giáo dục nước nhà. Một số năng lực quy định trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 Trong khuôn khổ mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, đã nhấn mạnh về việc xây dựng và phát triển 5 phẩm chất cùng với 10 NL cốt lõi.