CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về tín dụng khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại * Khái niệm tín dụng Ngân hàng: Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Kiều thì “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”. Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Có nhiều cách định nghĩa nhưng tựu trung lại thì tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng - Sự chuyển nhượng này có thời hạn. - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí và rủi ro. * Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân: Trên cơ sở định nghĩa “Tín dụng ngân hàng” nêu trên và trong phạm vi của đề án này, đối tượng khách hàng cá nhân bao gồm cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể, vì vậy “Tín dụng khách hàng cá nhân là hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể”. 4 * Đặc điểm của hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân: - Quy mô mỗi khoản vay nhỏ, số lượng các khoản vay lớn Khách hàng cá nhân thường có hai mục đích vay: Thứ nhất là cá nhân, hộ gia đình vay để bổ sung vốn kinh doanh.
Do năng lực hạn chế nên đa phần hoạt động kinh doanh thường không có quy mô lớn. Thứ hai là cá nhân vay đáp ứng nhu cầu vốn để tiêu dùng. Khoản vay cá nhân cho mục đích này trực tiếp phục vụ cho nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống như mua nhà đất, mua sắm vật dụng gia đình, xây dựng, sửa chữa nhà, du học… Với số lượng dân số Việt Nam hiện tại trên 99 triệu người, hiện Việt Nam vẫn trong giai đoạn dân số vàng với 68% dân số trong tuổi lao động là độ tuổi có khả năng phát sinh nhu cầu tín dụng tiêu dùng và kinh doanh nhiều nhất. Vì vậy, số lượng các khoản vay khách hàng cá nhân thường rất lớn gấp nhiều lần so với khách hàng doanh nghiệp.
Tuy nhiên, do quy mô khoản vay phụ thuộc vào nhu cầu vốn và khả năng tài chính của khách hàng nên đối với khách hàng các nhân quy mô sẽ nhỏ hơn khách hàng doanh nghiệp. - Tín dụng khách hàng cá nhân gây tốn kém nhiều chi phí Do đặc điểm của khách hàng cá nhân là số lượng nhiều và phân tán rộng nên để duy trì và đầu tư phát triển tín dụng khách hàng cá nhân sẽ tốn kém nhiều chi phí cho các công tác: - Mở rộng hệ thống mạng lưới, quảng cáo, tiếp thị tạo thuận lợi trong việc tiếp cận đối tượng khách hàng cá nhân ở từng địa bàn, khu vực. - Phát triển nguồn nhân lực đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định đến quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ. - Các chi phí liên quan như: chi phí quản lý, văn phòng phẩm, điện, nước, điện thoại, công tác phí hỗ trợ CBTD… 1.
Các sản phẩm tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Theo định nghĩa về cấp tín dụng tại Luật các TCTD thì hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng bao gồm các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng và các nghiệp vụ tín dụng khác. Tuy nhiên, đối với khách hàng cá nhân các nghiệp vụ chiết khấu, cho thuê tài chính, bao 5 thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng gần như không phát sinh do các giao dịch thanh toán của khách hàng cá nhân đơn thuần là mua bán trả ngay hoặc đặt cọc một phần nên không phát sinh nhu cầu với các nghiệp vụ trên. Nghiệp vụ cho vay chiếm trên 99% tổng doanh số các nghiệp vụ tín dụng. Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề án này, tác giả chỉ đề cập đến vấn đề đầu tư phát triển nghiệp vụ cho vay.
Cho vay khách hàng cá nhân gồm các sản phẩm chính như: ⮚ Các sản phẩm tín đáp ứng nhu cầu tiêu dùng phục vụ đời sống. − Các sản phẩm cho vay bất động sản tiêu dùng. − Các sản phẩm cho vay mua oto. − Sản phẩm cho vay phục vụ nhu cầu đời sống có đảm bảo bằng tài sản.
− Sản phẩm cho vay thấu chi có đảm bảo bằng tài sản. − Sản phẩm cho vay KHCN cầm cố giấy tờ có giá. − Các sản phẩm thẻ tín dụng cho KHCN. ⮚ Các sản phẩm đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
− Các sản phẩm cho vay bổ sung vốn lưu động. − Các sản phẩm cho vay đầu tư tài sản trung dài hạn phục vụ SXKD. − Các sản phẩm cho vay thấu chi phục vụ SXKD. Cơ sở lý luận về đầu tư phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại 1.
Mục tiêu của đầu tư phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại NHTM Quan điểm về đầu tư phát triển: Đầu tư phát triển là một loại hình của đầu tư phân loại theo tính chất sử dụng vốn. Đầu tư phát triển: là việc bỏ vốn ra nhằm gia tăng giá trị tài sản cả về số lượng và chất lượng. Thực chất của đầu tư phát triển là tái sản xuất mở rộng có nghĩa là tạo ra những năng lực mới hoặc cải tạo, hiện đại hóa năng lực hiện tại nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển của doanh nghiệp, của tổ chức hay cả nền kinh tế. Như vậy hiểu một cách đơn giản nhất thì đầu tư phát triển là một phương thức đầu tư trực tiếp với mục đích làm gia tăng số lượng và chất lượng của đối tượng đầu tư.
Như vậy trong lĩnh vực ngân hàng, mục tiêu của đầu tư phát triển tín dụng khách hàng cá nhân là đầu tư nhằm gia tăng dư nợ tín dụng khách hàng cá nhân trong cơ cấu khách hàng cho vay tại một ngân hàng đồng thời tăng chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân. Nội dung đầu tư phát triển tín dụng khách hàng cá nhân Vấn đề đầu tư nhằm mục tiêu phát triển tín dụng tại một Ngân hàng cũng như phát triển các sản phẩm khác đều có thể xuất phát từ các nội dung đầu tư: như đầu tư cho cải tiến quy trình; đầu tư cho hoạt động công nghệ; đầu tư cho sản phẩm… Tuy nhiên, với đặc thù của hoạt động tín dụng là hoạt động chịu sự kiểm soát rất chặt chẽ của các hệ thống văn bản pháp luật, các quy định của ngành Ngân hàng. Vì vậy các Ngân hàng muốn cải tiến quy trình nghiệp vụ, cũng như áp dụng công nghệ cao cho hoạt động tín dụng thì sự ảnh hưởng của nội dung đầu tư này cũng không lớn do vẫn phải tuân thủ các quy định của pháp luật và của Ngân hàng Nhà nước. Đối với vấn đề sản phẩm, thì tín dụng là sản phẩm truyền thống của tất cả các Ngân hàng và chỉ xoay quang nhu cầu tiêu dùng, hoặc sản xuất kinh doanh của các Khách hàng.
Vì vậy, sự tương đồng giữa sản phẩm của các Ngân hàng là tương đối lớn. Đầu tư cải tiến sản phẩm cũng không tạo ra nhiều sự cạnh tranh lớn do các Ngân hàng khác cũng có sản phẩm tương tự. Bên cạnh đó việc thay đổi quy trình nghiệp vụ, công nghệ, cũng như sản phẩm là hoạt động được triển khai tại Trụ sở chính của các Ngân hàng và được áp dụng chung cho toàn hệ thống. Chính vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài xét riêng việc đầu tư phát triển tín dụng KHCN tại Chi nhánh Hưng Yên của Ngân hàng VCB nên bài viết sẽ tập trung vào các nội dung triển khai tại Chi nhánh của Ngân hàng gồm các nội dung sau: ⮚ Đầu tư phát triển mạng lưới phòng giao dịch.
Kênh phân phối sản phẩm truyền thống của các Ngân hàng là kênh phân phối tại quầy thông qua mạng lưới các điểm bán gồm Trụ sở Chi nhánh và các phòng giao dịch. Phòng giao dịch là đơn vị phụ thuộc ngân hàng, được quản lý bởi một chi nhánh ngân hàng và nằm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt trụ sở của chi nhánh quản lý. Phòng giao dịch của ngân hàng thực hiện các chức năng cung ứng các sản phẩm, dịch vụ chính của ngân hàng và phục vụ chủ yếu cho khách hàng cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ, trong đó với định hướng đầu tư phát triển tín dụng khách hàng cá nhân thì việc đầu tư phát triển mạng lưới phòng giao dịch là đặc biệt quan trọng để tiếp cận các địa bàn tiềm năng và thuận lợi trong quá trình khai thác, chào bán sản phẩm của ngân hàng tới khách hàng. Các nội dung chính liên quan đến đầu tư để phát triển mạng lưới các phòng giao dịch gồm: − Đầu tư cho công tác thuê mặt bằng, địa điểm hoạt động.
7 − Đầu tư xây dựng/cải tạo/sửa chữa cơ sở hạ tầng. − Đầu tư lắp đặt trang thiết bị, công cụ dụng cụ phục vụ cho hoạt động của phòng giao dịch. ⮚ Đầu tư cho hoạt động marketing Với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế (đặc biệt với sự xuất hiện của các định chế tài chính, nhà đầu tư nước ngoài), các NHTM tại Việt Nam bắt đầu quan tâm đến marketing và triển khai trên thực tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Các nội dung đầu tư cho hoạt động marketing cho sản phẩm tín dụng khách hàng các nhân tại ngân hàng gồm: − Đầu tư tuyên truyền, quảng cáo sản phẩm.
− Đầu tư cho các chương trình khuyến mại. − Đầu tư đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong hoạt động tuyên truyền, quảng cáo.