Chương 1: Cơ sở lý thuyết Chương 2: Quy trình thực nghiệm và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả và thảo luận Phần 3: Kết luận và kiến nghị 6 7 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Ngày nay, với sự phát triển của kinh tế xã hội dẫn đến nhiều hệ lụy về môi trường. Trong các năm qua nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới đã không ngừng nghiên cứu và xây dựng nhiều công cụ hữu ích nhằm giảm thiểu những hậu quả của ô nhiễm môi trường và tiến đến phát triển bền vững. Để phát triển bền vững cần giải quyết nhiều vấn đề như: môi trường bền vững, xã hội bền vững, phát triển kinh tế xanh… Nhiều công cụ nhằm hỗ trợ quá trình phát triển bền vững đã không ngừng phát triển và ngày càng hoàn thiện.
Phát triển bền vững Hình 1. Phát triển bền vững là sự giao thoa của 3 thành phần [9] Phân Viên Phát Triển Bền Vững đã xuất bản ấn phẩm “Indicators of sustainable development: guidelines and methodologies” hướng dẫn việc lựa chọn chỉ thị và phương pháp để đánh giá phát triển bền vững [20]. OECD đã xuất bản tài liệu “Handbook on constructing composite indicators: methodology and user guide” [21]. Hiện nay, chỉ thị phát triển bền vững được xây dựng dựa trên khung DPSIR [22] 8 Chỉ thị môi trường Sản phẩm, việc Tài nguyên môi làm, dịch vụ, trường công ty, báo cáo Giao thông Chỉ thị chính trị: - - Tham gia - - Giới - - Công bằng Chỉ thị MT: Chỉ thị xã hội: - GNP - Sức khỏe - Tỷ lệ phát triển - Gia đình - Hợp tác… HDI, thu nhập, chỉ thị, - An toàn Tuổi thọ trung bình Thất nghiệp Hình 1.
Khung đánh giá phát triển bền vững Năm 2013, Thủ Tướng chính phủ ban hành Quyết định số 2157/QĐ-TTg về ban hành bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá phát triển bền vững địa phương giai đoạn 2013 – 2020. Chỉ số bền vững xã hội Chỉ số bền vững xã hội (SSI) là một trong những chỉ số rất hữu ích để đánh giá mức độ phát triển của xã hội. SSI được thực hiện lần đầu tiên vào năm 2006 tại Phần Lan đã nhận được sự hoan nghênh nồng nhiệt của nhiều nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học, sinh viên, các tổ chức phi chính phủ và công chúng bởi sự dễ hiểu và tính khoa học của nó [23]. Khung chỉ thị chỉ số bền vững được thiết lập bao gồm 24 chỉ thị phụ và 8 chỉ thị chính.
Mỗi chỉ chị chính bao gồm 3 chỉ thị phụ, các chỉ thị chính đều có số lượng chỉ thị phụ như nhau nhằm cho kết quả tốt nhất khi tích hợp các chỉ thị lại với nhau. B1: Tính tham số đo của từng chỉ thị. B2: Chỉ thị chính được tính bằng phương pháp đồng trọng số giữa các chỉ thị thành phần. 9 B3: Chỉ số SSI được tính bằng trung bình 8 chỉ thị chính.
Cấu trúc chỉ số bền vững xã hội Chỉ thị và chỉ số Môi trường Bắt đầu từ năm 1999, Đại học Yale và Columbia đã đưa ra áp dụng Bộ chỉ thị đánh giá tính bền vững về môi trường để tính toán nên chỉ số bền vững môi trường - Environmental Sustainability Index (ESI) của các nước, được tích hợp từ Bộ chỉ thị, biến số gồm 5 chủ đề chính, 21 chỉ thị và 76 biến số có tính chất khá bao quát về tài nguyên, môi trường, sinh thái, thể chế, xã hội [24]. Và sau đó kể từ năm 2000 đến năm 2005 hàng năm tổ chức này đều có phát hành Bảng chỉ thị đánh giá tính bền vững về môi trường của các nước, với thang bậc xếp loại thứ hạng vị trí cao - thấp cụ thể giữa các quốc gia và các nhóm khu vực quốc gia. 76 thông số 21 chỉ thị Điểm ESI bằng giá trị tính toán 5 chủ đề trung bình 10 của 21 chỉ thị này Điểm số ESI Hình 1. Qui trình đánh giá chỉ số môi trường Tại Việt Nam, năm 2009 Bộ Tài Nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 09/2009/BTNMT về quy định về xây dựng và quản lý các chỉ thị môi trường quốc gia và Thông tư số Thông tư số 10/2009/BTNMT quy định về bộ chỉ thị môi trường quốc gia đối với môi trường không khí, nước mặt lục địa, nước biển ven bờ.
Đến năm 2015, Bộ Tài Nguyên và Môi trường đã thay thế hai thông tư trên bằng Thông tư số 43/2015/BTNMT về việc bổ sung và điều chỉnh một số quy định liên quan đến các chỉ thị môi trường quốc gia. Tăng trưởng xanh Theo UNEP tăng trưởng xanh được xem như kết quả của “cải thiện phúc lợi con người và công bằng xã hội, trong khi giảm thiểu mức thấp nhất các rủi ro môi trường và cạn kiệt hệ sinh thái. Phát triển bền vững Tăng trưởng xanh Kinh tế Môi trường Xã hội Hình 1. Mối quan hệ giữa tăng trưởng xanh và phát triển bền vững Tăng trưởng xanh (Green Growth) được các Chính phủ trên thế giới đã và đang triển khai các chiến lược phát triển quốc gia theo hướng “xanh”, thân thiện với môi trường.
Theo UNEP [25]: “Nền kinh tế xanh là nền kinh tế nâng cao đời sống của con người và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái”. UNEP đã phối hợp với các đối tác như OECD và WB phát triển một bộ các chỉ tiêu mà từ đó các chính phủ có thể lựa chọn các chỉ tiêu phù hợp tùy thuộc vào tình hình của từng quốc gia [26]. Han et al. (2009) đã phát triển một chỉ số với tên gọi “Chỉ số tăng trưởng xanh – Green growth index”.
Trong nghiên cứu này, GGI được thiết lập bởi hai thành phần: Chỉ số thịnh vượng xanh (the Green Welfare Index) và chỉ số chính sách động lực xanh (the Green Dynamic Policy Index). Công thức tính GGI: GGI = λ· GWI +(1–λ) · GDPI [27]. 11 STEPI đã cũng thiết lập chỉ số “Low-carbon green growth index” (LCGGI). Chỉ số này gồm 53 chỉ thị thuộc 3 thành phần: đầu vào (Input) quá trình (Process) và đầu ra (Output) với trọng số lần lượt 40%, 20%, và 40%.
Nhóm đầu vào (25 chỉ thị) và đầu ra (18 chỉ thị) bao gồm 2 chủ đề: nhóm chỉ thị kinh tế - xã hội và nhóm chỉ thị vật lý sinh học. Nhóm chỉ thị quá trình bao gồm 2 chủ đề: nhóm chỉ thị thúc đẩy (promotion) và nhóm chỉ thị tri thức và các bên liên quan (stakeholder participation and knowledge flow) [27]. E3G (2009) đã báo cáo chỉ số “Low-carbon competitiveness index -LCCI” cho các quốc gia G20. Trong chỉ số này, tất cả 36 biến chỉ thị được phân lớp thành 3 nhóm: mức độ phát thải của nền kinh tế, chỉ thị kinh tế cacbon thấp và chỉ thị thịnh vượng tương lai.
Các chỉ thị trong chỉ số LCCI được lựa chọn dựa trên tổng quan tài liệu và ý kiến chuyên gia Sau đó, sử dụng phương pháp hồi quy từng bước để loại bỏ các chỉ thị không phù hợp [29]. GCI bao gồm 2 thành phần chính: chỉ số khử cacbon (decarbonization index) có 4 mục và chỉ số công nghiệp hóa xanh (green industrialization index) có 7 mục. Trung bình của các mục được sử dụng như chỉ số cạnh tranh xanh [29]. Năm 2012, Thủ Tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1393/QĐ-TTg về “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh” cho giai đoạn từ thời kỳ 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 [7].
Năm 2018, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 01/2018/TT-BXD quy định về chỉ tiêu xây dựng đô thị tăng trưởng xanh. Hệ thống các chỉ thị và chỉ số trên là cơ sở để tác giả xây dựng bộ chỉ thị lối sống xanh. Nghiên cứu kế thừa kinh nghiệm của nhiều hệ thống chỉ thị trên thế giới. 12 CHƢƠNG 2: QUY TRÌNH THỰC HIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.
Quy trình thực hiện Thu thập thông tin sinh viên Tham khảo tài liệu nghiên cứu trường Đại học Thủ Dầu Một Xây dựng bộ tiêu chí lối Tham khảo tài liệu sống xanh sơ bộ Chuyên gia Phương pháp trọng số Sàng lọc bộ tiêu chí Phân tích đa tiêu chí Phương pháp phân tích Thực hiện phỏng vấn lấy ý Phương pháp phân tích đa tiêu chí kiến chuyên gia tiến trình cấp bậc (AHP) Bộ tiêu chí hoàn chỉnh Phương pháp khảo sát Thành lập phiếu khảo sát Thực hiện khảo sát sinh viên và đánh giá lối sống xanh Đánh giá và đề xuất giải pháp lối sống xanh 13 Hình 2. Sơ đồ tiến trình thực hiện đề tài Thuyết minh Sau khi tham khảo tài liệu trong và ngoài nước về lối sống xanh. Tác giả tiến hành tổng hợp và phân tích theo chủ đề để được bộ tiêu chí sơ bộ. Tiếp đó áp dụng phương pháp phân tích đa tiêu chí tiến hành xây dựng trọng số tiêu chí và sàng lọc bộ tiêu chí.
Sau khi đã phân loại chủ đề tiến hành phỏng vấn lấy ý kiến chuyên gia để đánh giá cho điểm các tiêu chí, từ đó tổng hợp lại thành bộ tiêu chí hoàn chỉnh. Xây dựng qui trình đánh giá tổng hợp các chỉ thị lối sống xanh thành chỉ số lối sống xanh. Dựa vào bộ tiêu chí đã thành lập xây dựng phiếu khảo sát sinh viên. Áp dụng phương pháp khảo sát để xác định số phiếu khảo sát cần lập.
Thực hiện khảo sát và tiến hành đánh giá lối sống xanh cho sinh viên trường Đại học Thủ Dầu Một. Cuối cùng hoàn thành xây dựng đề xuất các giải pháp thực hành lối sống xanh cho sinh viên. Phƣơng pháp nghiên cứu 2. Phương pháp khảo sát (questionnare) Để xác định cỡ mẫu cho khảo sát, tác giả áp dụng công thức của Czaja và Blair (1996), và Creative Research Systems (2003).
SS = Z2×p(1-p)/c2 Trong đó: - SS = Cỡ mẫu - z = giá trị phân phối tương ứng với độ tin cậy lựa chọn (nếu độ tin cậy 95% thì giá trị z là 1,96…) - p = là ước tính tỷ lệ % của tổng thể - c = sai số cho phép (+-3%, + -4%, +-5%. Với hầu hết các nghiên cứu khác, khoảng tin cậy 95% được giả định. Với độ tin cậy 95% (mức nghĩa =0,05), z = 1,96. 14 Theo Czaja và Blair (1996), khi xác định cỡ mẫu cho một mức độ chính xác nhất định, ước tính tỷ lệ % của tổng thể 20% hay 0,2.
Sai số cho phép nằm trong khoảng +5%[6]. Dựa vào giả định này, cỡ mẫu được tính như sau: 1,962 0, 2(1 0, 2) SS = 245,86 0,052 Tuy nhiên, con số này được điều chỉnh chính xác hơn cho số lượng sinh viên hiện hữu của trường đại học Thủ Dầu Một là khoảng 17.