Đặt vấn đề Vấn đề môi trường đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia và cộng đồng quốc tế. Ngày nay, cùng với sự phát triển của các hoạt động sản xuất kinh doanh, môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng đang bị tác động tiêu cực (Đào Trọng Ánh, 2000)[1]. Việt Nam là một nước nông nghiệp, có xuất phát điểm thấp, dân số tập chung chủ yếu ở khu vực nông thôn (Nguyễn Thị Vân Hà, 2013)[5]. Trong những năm gần đây khu vực nông thôn của nước ta đang trong quá trình chuyển đổi, kéo theo đó là sự phát sinh không ít vấn đề về ô nhiễm môi trường mà đặc biệt là ô nhiễm do hoạt động sản xuất nông nghiệp (Cục BVMT, 2007)[3].
Tuy Đảng và nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích cũng như biện pháp bảo vệ môi trường nhưng vì điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn nên việc bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế. Từ lâu nhân dân ta đã sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp nhằm diệt trừ sâu bệnh gây hại cho cây trồng để bảo vệ mùa màng. Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật để tăng năng suất cây trồng càng gia tăng (Phạm Bình Quyền, 2000)[8]. Do việc quản lý, bảo quản và sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật dùng trong nông nghiệp còn chưa chặt chẽ nên một số loại hóa chất bảo vệ thực vật ngoài danh mục được phép sử dụng vẫn lưu hành rộng rãi.
Tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật cấm và hạn chế sử dụng trong môi trường đất, nước, không khí, động vật, thực vật ở các vùng nghiên cứu rất đáng lo ngại, cần tiếp tục áp dụng các biện pháp can thiệp (Sở KHCN BN, 2009)[7]. Hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) khi sử dụng cho cây trồng được cây trồng hấp thụ một phần, còn lại một phần bị rửa trôi theo nước mưa xuống n 2 các sông ngòi hoặc thấm vào đất. Dư lượng hóa chất BVTV trong nông phẩm, đất, nước cao sẽ ảnh hưởng đến môi trường thiên nhiên như thay đổi thành phần của đất, tác động đến động vật thủy sinh trong các ruộng, ruộng rau, thay đổi cấu trúc các loại côn trùng và có thể là nguyên nhân gây bùng nổ các dịch bệnh khác trong nông nghiệp,… (Nguyễn Chân Oánh, 2010)[6]. Đặc biệt, việc sử dụng hóa chất BVTV không đúng các quy trình bảo hộ lao động đã ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe con người như: Gây rối loạn nội tiết, ung thư, thay đổi hệ miễn dịch, bệnh ngoài da, bệnh phổi (Nguyễn Thị Vân Hà, 2013) [5].
Ngày nay, cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp, nông nghiệp,… vấn đề ô nhiễm môi trường do sử dụng tùy tiện các loại hóa chất trong nông nghiệp đang trở nên nghiêm trọng (Cục BVMT, 2007)[3]. Việc sử dụng ngày càng nhiều các chất hữu cơ gây ô nhiễm khó phân hủy (POP) và các loại hóa chất BVTV có độc tính cao đã làm cho mức độ tồn lưu các hóa chất này trong nông sản, thực phẩm, đất, nước, không khí và môi trường ngày càng lớn (Cục BVMT, 2007)[3]. Các vụ ngộ độc thức ăn bởi hóa chất BVTV cùng với các loại bệnh tật do ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng và trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở nước ta hiện nay (Sở KHCN BN, 2009) [7]. Thị trấn Lim đang trong quá trình đô thị hóa, cơ bản các diện tích đất nông nghiệp đã chuyển mục đích sử dụng sang các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp (UBND TT Lim, 2013)[11].
Tuy vậy, thị trấn Lim có truyền thống canh tác nông nghiệp từ lâu đời, đặc biệt vào những năm 60 của thế kỷ 20 hoạt động sản xuất nông nghiệp tại đây đã sử dụng một lượng lớn thuốc BTTV trong nông nghiệp. Hoạt động này đã để lại một lượng tồn dư lớn dư lượng các chất độc trong đất và môi trường (Sở KHCN BN, 2009) [7]. n 3 Xuất phát từ những vấn đề trên và nhận thấy được tầm quan trọng của công tác đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường đất, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và cơ sở thực tập là Sở Tài Nguyên và Môi trường, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giảng viên TS. Hoàng Văn Hùng em thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng và xây dựng bản đồ tồn dư hóa chất sử dụng trong nông nghiệp khu vực thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh” nhằm phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về môi trường tại tỉnh Bắc Ninh, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ và cải thiện môi trường hướng đến sự phát triển bền vững.
Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát của đề tài Đánh giá hiện trạng môi trường nông nghiệp và xây dựng bản đồ tồn dư hóa chất sử dụng trong nông nghiệp khu vực thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Mục tiêu cụ thể của đề tài Đánh giá hiện trạng môi trường khu vực thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Xây dựng cơ sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin để đánh giá về lượng tồn dư hóa chất sử dụng trong nông nghiệp mà trong đó chủ yếu tồn dư do thuốc BVTV.
Đề xuất cơ chế chính sách và biện pháp quản lý môi trường phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Yêu cầu Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác. Các mẫu nghiên cứu phải đại diện cho khu vực lấy mẫu trên địa bàn nghiên cứu. Đề xuất những giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế, phù hợp hơn.
Ý nghĩa của đề tài Giúp cho sinh viên: - Biết cách vận dụng kiến thức đã học vào thực tế. - Biết làm quen việc thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao kiến thức và kinh nghiệm bản thân, tạo điều kiện cọ sát thực tế để thuận lợi hơn cho quá trình công tác về sau. - Đánh giá công tác quản lý và sử dụng hóa chất BVTV tại địa phương. Từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng hóa chất BVTV trong sản xuất nông nghiệp.
Ứng dụng công nghệ thông tin vào ngành môi trường đã góp phần lớn trong việc quản lý dữ liệu về môi trường, kiểm soát tình hình ô nhiễm, đánh giá hiện trạng môi trường một cách đầy đủ. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 2.
Khái niệm về môi trường và quản lý môi trường * Khái niệm: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển con người và sinh vật. - Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại: + Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên như là các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học, tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người. + Môi trường nhân tạo: Là tất cả cả các yếu tố tự nhiên, xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người. + Môi trường xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa người với người tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và cộng đồng loài người.
Môi trường theo nghĩa rộng là tổng các nhân tố như không khí, nước, đất, ánh sáng, âm thanh, cảnh quan xã hội,… có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống con người và các tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người. Môi trường theo nghĩa hẹp là các nhân tố như không khí, đất, nước, ánh sáng,… liên quan tới chất lượng sống của con người, không xét tới tài nguyên. n 6 “Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tác động có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng hướng tới sự phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên”. + Hoạt động bảo vệ môi trường: Là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, phòng ngừa hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường.
Khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học. + Tiêu chuẩn môi trường: Là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để bảo vệ môi trường. + Ô nhiễm môi trường: Là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu tới con người, sinh vật. Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.
+ Sự cố môi trường: Là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng. + Chất gây ô nhiễm: Là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm. + Sức chịu tải của môi trường: Là giới hạn cho phép mà môi trường có thể tiếp nhận và hấp thụ các chất gây ô nhiễm. Các khái niệm liên quan đến hóa chất BVTV Hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản chống lại sự phá hoại của sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật.
Những sinh vật gây hại chính gồm: Sâu hại, bệnh hại, cỏ dại, chuột và các tác nhân khác. Hóa chất bảo vệ thực vật gồm nhiều nhóm khác nhau, gọi tên theo tên nhóm sinh vật gây hại, thuốc trừ bệnh để trừ bệnh hại,… Một số đặc điểm của hóa chất bảo vệ thực vật cần lưu ý: - Tên hóa chất: Do nhà sản xuất đặt tên để phân biệt sản phẩm của hãng này với hãng khác. - Hoạt chất: Là thành phần chính của thuốc, quyết định đặc tính của thuốc.