Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ của ngân hàng thương mại Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với chất lượng dịch vụ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Thanh Xuân Chương 4: Định hướng và giải pháp cải thiện mức độ hài lòng của khách hàng cá nhân đối với chất lượng dịch vụ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Thanh Xuân. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Các nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng xuất hiện trong cộng đồng nghiên cứu vào đầu những năm 1990.
Điển hình là nghiên cứu của (Lewis&Mitchell, 1990; Aubonteng, 1996). Edvardson and Ovretveit (1994) đối với chất lƣợng của một dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp, họ xây dựng các tiêu chí đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng để tìm kiếm các giải pháp hoàn thiện hoặc nâng cao chất lƣợng dịch vụ, từ đó chiếm thị phần và tăng tổng doanh thu cũng nhƣ lợi nhuận. Các tác giả này cho rằng chất lƣợng dịch vụ là dịch vụ đáp ứng mong đợi của khách hàng và đáp ứng nhu cầu của họ. Theo Parasuranman (1988), chất lƣợng dịch vụ là khoảng cách giữa kỳ vọng của khách hàng và nhận thức về việc sử dụng dịch vụ.
Về sự hài lòng của khách hàng, Kotler và Armstrong (2012) phát biểu rằng sự hài lòng của khách hàng là việc đánh giá một sản phẩm hoặc dịch vụ không đáp ứng đƣợc mong đợi của khách hàng về sản phẩm hoặc dịch vụ. Philip Kotler (1997) định nghĩa sự hài lòng của khách hàng là kết quả của trải nghiệm của khách hàng sau khi sử dụng dịch vụ. Do đó, sự hài lòng này là nhận thức của khách hàng về một sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng nhu cầu và mong đợi của họ. Lehtinen (1982) lại nhận định rằng sự hài lòng của khách hàng là thƣớc đo chất lƣợng dịch vụ.
Vì chất lƣợng dịch vụ cần đƣợc đánh giá từ hai khía cạnh: (1) Quy trình cung cấp dịch vụ. (2) Kết quả dịch vụ. Ngoài ra, Gronnrooos (1984) đề xuất hai lĩnh vực chất lƣợng dịch vụ. (2) 5 chất lƣợng kỹ năng; Parasuranman (1985) đã đề xuất một mô hình với 5 khoảng cách và 5 thành phần chất lƣợng dịch vụ.
Nó đƣợc gọi tắt là SERVQUAL. Vì vậy, Parasuraman và cộng sự (1988,1991,1993) đã khẳng định rằng SERVQUAL là thƣớc đo chất lƣợng dịch vụ đáng tin cậy và chính xác, và thang đo đã đƣợc sử dụng rộng rãi (Buttle, 1996; Robinson, 1999). Trong lĩnh vực dịch vụ du lịch, nhiều nhà nghiên cứu đã áp dụng thang đo SERVQUAL để đo lƣờng chất lƣợng dịch vụ, ví dụ: Lotfollah Najjar và Ram R. Các nghiên cứu này tập trung vào việc điều chỉnh các thành phần chất lƣợng theo các biến do Parasuraman đề xuất.
Nghiên cứu của Snehalkumar H Mistry (2013) đo lƣờng sự hài lòng của khách hàng trong ngành ngân hàng: Tài liệu tham khảo đặc biệt cho Ngân hàng Thành phố Surat gồm 5 yếu tố: Độ tin cậy, khả năng đáp ứng, đảm bảo, đồng cảm và phƣơng tiện hữu hình; Nghiên cứu của Anas Salman Alabboodi (2018) về Ảnh hƣởng của sự hài lòng của khách hàng đến chất lƣợng dịch vụ: Trƣờng hợp của các ngân hàng Ira cho thấy sự hài lòng của khách hàng gồm 5 yếu tố: Đảm bảo, độ tin cậy, tính hữu hình, khả năng đáp ứng và sự đồng cảm. Nghiên cứu của JJ Navaratnaseelan và P. Elangkumaran (2014) về Tác động của chất lƣợng phục vụ đối với khách hàng cá nhân: Một nghiên cứu về khách hàng của ngân hàng thƣơng mại Ceylon PLC Trincomalee, kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 nhân tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng phục vụ đối với khách hàng cá nhân gồm: Tính hữu hình, độ tin cậy, phản hồi, đảm bảo và sự thông cảm. Một số nghiên cứu trong nƣớc: Nghiên cứu của Võ Thanh Hải và cộng sự (2017) về Sự hài lòng của khách hàng về chất lƣợng dịch vụ tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Sài Gòn - Chi nhánh Đà Nẵng, kết quả nghiên cứu cho thấy có 3 yếu tố tác động đến mức độ hài lòng của khách hàng: Sự cảm thông, sự nổi trội, sự đáp ứng; Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Thuý (2018) về Chất lƣợng dịch vụ ngân hàng của các Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam, kết quả 6 nghiên cứu cho thấy có 4 thành phần: Tin cậy, phƣơng tiện hữu hình, đồng cảm, đáp ứng ảnh hƣởng đến chất lƣợng dịch vụ ngân hàng; Nghiên cứu của Hà Văn Dũng (2018) về Ảnh hƣởng của chất lƣợng dịch vụ đến sự hài lòng khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thƣơng mại, kết quả nghiên cứu cho thấy sự hài lòng của khách hàng cá nhân về chất lƣợng dịch vụ tại các hàng thƣơng mại gồm 5 yếu tố: Sự tin cậy, sự cảm thông, khả năng đáp ứng, phƣơng tiện hữu hình và sự đảm bảo.
Nghiên cứu của Phạm Xuân Thành (2018) về Các yếu tố ảnh hƣởng đến mức độ hài lòng của khách hàng cá nhân về chất lƣợng dịch vụ ngân hàng Vietinbank chi nhánh Đồng Tháp, Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 yếu tố: Tin cậy, cảm thông, hữu hình, thông tin sản phẩm; trong số những yếu tố này, “Tin cậy” là yếu tố quyết định quan trọng nhất đến sự hài lòng của khách hàng cá nhân về chất lƣợng dịch vụ ngân hàng Có nhiều nghiên cứu thực tế về mối quan hệ giữa chất lƣợng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng. Cronin & Taylor (1992) đã nghiên cứu mối quan hệ này và kết luận rằng chất lƣợng dịch vụ đƣợc cảm nhận dẫn đến sự hài lòng của khách hàng. Bitner và Zeithaml (2003) (về chủ đề của Setayesh Sattari (2007). "Ứng dụng lý thuyết không xác nhận về mô hình xác định mức độ hài lòng của khách hàng trong viễn thông di động", Đại học Công nghệ Lulea định nghĩa sự hài lòng là: hoặc dịch vụ thời kỳ, sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu và mong muốn của họ.
Sự hài lòng của khách hàng có thể đƣợc đo lƣờng và thiết lập theo nhiều cách khác nhau. Nhƣ vậy, đánh giá sự hài lòng của khách hàng thông qua các tiêu chí nhất định có mục đích cuối cùng chính là đánh giá chất lƣợng dịch vụ của doanh nghiệp/ tổ chức, nhằm nâng cao thị phần và tăng trƣởng lợi nhuận. Tổng quan nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự cạnh tranh gay gắt trong hoạt động ngân hàng, dịch vụ ngân hàng ngày nay rất đa dạng, 7 nó không chỉ cung cấp các dịch vụ truyền thống nhƣ giữ hộ tiền, đổi tiền, cho vay huy động vốn mà còn thực hiện các dịch vụ ngân hàng hiện đại nhƣ tƣ vấn tài chính, bảo hiểm, cho thuê tài sản…, Chính vì vậy, việc nghiên cứu cải tiến chất lƣợng các sản phẩm dịch vụ thông qua việc đầu tƣ toàn diện, từ hệ thống công nghệ, các quy trình quản lý rủi ro đến đơn giản hóa các chính sách, thủ tục và đào tạo nguồn nhân lực có tác động đến hiệu quả và chất lƣợng dịch vụ, từ đó nâng cao sự hài lòng của khách hàng. Trần Hồng Hải (2014), Lê Hoàng Duy (2009), Huỳnh Minh Trƣờng (2010), Bùi Phạm Thanh Bình (2016) chỉ ra tồn tại một mối quan hệ chặt chẽ giữa các yếu tố thuộc nhóm yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng khách hàng: sự tin cậy, sự đồng cảm của khách hàng, hiệu quả phục vụ, năng lực phục vụ của ngân hàng cũng nhƣ tác động của phƣơng tiện hữu hình có ảnh hƣởng rất lớn tới sự hải lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng.
Cụ thể, về nghiên cứu của Hoàng Xuân Bích Loan (2008), tác giả đã sử dụng mô hình SERVQUAL, để xác định các yếu tố ảnh hƣởng trực tiếp tới sự hài lòng của khách hàng tại các Ngân hàng thƣơng mại bao gồm: độ tin cậy của khách hàng về bảo mật thông tin, ATM hoạt động tốt, thời gian giao dịch nhanh chóng, độ phản hồi để xem xét phong cách phục vụ của nhân viên đối với khách hàng, các kỹ năng của nhân viên khi giải quyết các khiếu nại, tƣ vấn và nghiệp vụ, độ tiếp cận của khách hàng với ngân hàng và dịch vụ ngân hàng, thông tin khách hàng đƣợc cung cấp và chất lƣợng dịch vụ, sau đó, áp dụng mô hình phân tích nhân tố khám phá EFA và hàm hồi quy để xác định rõ các yếu tố ảnh hƣởng lớn nhất tới sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng. Thạc sĩ Phạm Thị Mộng Hằng (2020) nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng đối với chất lƣợng dịch vụ của các ngân hàng thƣơng mại trong nƣớc trên địa bàn thành phố Biên Hòa, đã chỉ ra những điểm yếu cần phải hạn 8 chế và khắc phục, bao gồm: “Ngân hàng có những nhân thể hiện sự quan tâm đến cá nhân anh/chị”;“Hệ thống máy ATM luôn đƣợc hoạt động tốt”; “Thời gian và thủ tục xử lý giao dịch tại ngân hàng nhanh, đúng hẹn”; “Ngân hàng thực hiện dịch vụ đúng ngay từ lần đầu tiên”. BIDV Thanh Xuân cho rằng, việc khách hàng có thể lựa chọn nhiều loại ngân hàng thƣơng mại thì việc kinh doanh phải dựa trên cơ sở thấu hiểu nhu cầu khách hàng và đáp ứng tối ƣu nhu cầu, mong muốn của khách hàng để duy trì và mở rộng vị thế khách hàng. Yếu tố quyết định thực sự của lòng trung thành của khách hàng là giá trị khách hàng.
Vì vậy, việc tìm kiếm và đƣa ra các giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng và thuyết phục khách hàng tiếp tục sử dụng các sản phẩm dịch vụ của BIDV Thanh Xuân là vấn đề rất cấp thiết đƣợc ngân hàng quan tâm. Cơ sở lý luận về chất lƣợng dịch vụ ngân hàng 1. Khái niệm dịch vụ Không giống nhƣ các sản phẩm hiện có, các bộ phận dịch vụ không tồn tại về mặt vật lý. Một sản phẩm hoặc dịch vụ ở trạng thái vật lý có thể nghe thấy hoặc cảm nhận đƣợc bằng bất kỳ giác quan nào.
Mỗi loại hình dịch vụ mang lại một số giá trị cho ngƣời tiêu dùng. Vì vậy, chúng tôi không nói ở đây về những mặt hàng có giá trị phục vụ học thuật nhƣ kinh tế chính trị. Nó cũng không giải quyết các giá trị sử dụng, vì chúng có phạm vi rộng hơn.