CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH VÀ NGÀNH ĐIỆN TẠI VIỆT NAM 1. Tổng quan về phát thải khí nhà kính tại Việt Nam 1. Phát thải khí nhà kính ở Việt Nam Theo báo cáo đánh giá của nhóm công tác I thuộc Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) đưa ra vào đầu năm 2013, Biến đổi Khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn của nhân loại. Những ảnh hưởng của BĐKH đến con người và các thay đổi của hệ thống khí hậu cũng đã được ghi nhận từ những năm 1950 [21][24].
BĐKH toàn cầu là do phát thải khí nhà kính (KNK), và thế giới đang có xu hướng gia tăng khí thải có khả năng dẫn đến BĐKH ở mức nguy hiểm [21]. Thỏa thuận Paris theo Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) đã thống nhất hạn chế mức độ nóng lên toàn cầu tới 2 độ C so với thời kì tiền công nghiệp và phương án lý tưởng hơn là không quá 1,5 độ C. Việt Nam tham gia vào UNFCCC năm 1994 và là thành viên của Nghị định thư Kyoto – một thỏa thuận về việc cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, gắn liền với UNFCCC từ năm 2002. Việt Nam được xếp vào các quốc gia nằm ngoài Phụ lục I (Non-Annex I) và không có nghĩa vụ cắt giảm KNK.
Sau khi tham gia UNFCCC, Việt Nam thực hiện kiểm kê KNK thông qua việc xây dựng thông báo quốc gia (NC) và báo cáo cập nhật hai năm một lần cho UNFCCC (BUR). Trong bối cảnh BĐKH, mặc dù về lượng phát thải KNK thì Việt Nam là nước có tổng lượng phát thải thấp trên toàn cầu nhưng phát thải KNK của Việt Nam lại đang trên đà tăng với tốc độ cao [19]. Trong năm 2010, tổng lượng phát thải KNK tại Việt Nam là 246,8 triệu tấn CO2 tương đương. Phát thải KNK trong lĩnh vực năng lượng chiếm tỷ trọng lớn nhất là 53,05% của tổng lượng phát thải.
Trong năm 2013, Việt Nam phát thải 259 triệu tấn CO2 tương đương. Nếu xét về mức độ gia tăng phát thải KNK, mức phát thải bình quân đầu người tại Việt Nam đang tăng nhanh hơn gần 3 6 lần kể từ 0,3 tấn CO2/người năm 1990 lên 1,71 tấn CO2/người năm 2010, trong khi Trung Quốc tăng 3 lần, Hàn Quốc tăng 2,5 lần [28]. BĐKH tác động tới tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, đời sống, y tế và sức khỏe cộng đồng [13]. Căn cứ theo các kết quả kiểm kê quốc gia KNK từ năm 1994 đến 2010 và báo cáo bổ sung năm 2017 về thực hiện Công ước khung Liên hợp quốc UNFCCC, lượng phát thải khí nhà kính tại Việt Nam đã tăng hơn gấp đôi từ 103,8 triệu tấn CO2 tương đương lên 259 triệu tấn CO2 tương đương.
Trong đó, lượng khí thải cho lĩnh vực năng lượng tăng đáng kể, gấp khoảng 6 lần so với năm 1994 do nhu cầu về năng lượng tăng nhanh. Đáng chú ý là lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) đã bắt đầu chuyển dần từ việc phát thải khí nhà kính sang việc hấp thụ khí nhà kính từ năm 2010. Đây là kết quả của chương trình trồng rừng hiệu quả được thực hiện trong những năm trước đó.1: Phát thải/hấp thụ KNK theo lĩnh vực (triệu tấn CO2 tương đương) Lĩnh vực Năng Quá trình Nông LULUCF Chất Tổng Năm lượng công nghiệp nghiệp thải 1994 25,6 3,8 52,4 19,4 2,6 103,8 2000 52,8 10,0 65,1 15,1 7,9 150,9 2010 146,2 21,7 87,6 -20,7 17,9 252,6 2013 151,4 31,8 89,4 -34,2 20,7 259,0 Nguồn: MONRE, 2017 [27] Số liệu về kiểm kê KNK tính đến thời điểm này cho thấy, năng lượng và nông nghiệp là hai lĩnh vực phát thải KNK lớn nhất. Song song với phát triển kinh tế, phát thải từ năng lượng có xu hướng tăng nhanh trong những năm tới kể cả về tổng lượng và về tỷ trọng trong cơ cấu phát thải KNK.
Trong đóng góp do quốc gia tự xác định (NDC) cho UNFCCC, Việt Nam đã cam kết giảm phát thải hàng năm bằng nguồn lực trong nước ở mức 8% tới năm 2030 so với kịch bản thông thường (BAU) hoặc 25% với điều kiện có hỗ trợ quốc tế (SR 4 Việt Nam, 2015a) [32]. Chính phủ Việt Nam hiện đang trong giai đoạn rà soát NDC và đang xem xét điều chỉnh các mục tiêu giảm nhẹ, mà theo thỏa thuận Paris cho thấy mức tham vọng gia tăng chứ không giảm. Nếu đạt được 25% có điều kiện so với BAU, mức gia tăng tổng lượng phát thải hàng năm từ 2010 đến 2030 vẫn có thể gấp tới hơn 2,5 lần [19]. Nguồn : UNDP (2018) [19] Hình 1.1: Phát thải KNK năm 2010 và dự báo tới năm 2020 và 2030 so với Kịch bản phát triển thông thường BAU Từ minh họa của hình 1.1, cho thấy, sự gia tăng nhanh chóng và vai trò chủ đạo của ngành năng lượng trong trong phát thải quốc gia và thậm chí có khả năng tăng lên 675,4 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2030.
Trong khi đó, tổng lượng phát thải của lĩnh vực nông nghiệp, rác thải hay LULUCF chỉ có 112 triệu tấn CO2 tương đương. Với xu hướng phát thải KNK như dự báo, việc hạn chế phát thải KNK trong tất cả các lĩnh vực nói chung và lĩnh vực năng lượng nói riêng cần được quan tâm nhiều hơn. Phát thải khí nhà kính do sử dụng năng lượng ở Việt Nam Sản xuất năng lượng và sử dụng năng lượng là những nguồn gây ô nhiễm không khí và phát thải KNK lớn nhất do con người tạo ra. Hiện nay, tại Việt Nam, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế cũng như dân số, nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, đặc biệt với việc sử dụng nhiều nhiên liệu hóa thạch đã khiến cho các vấn đề về môi trường gia tăng.
Trong lĩnh vực năng lượng, tại Việt Nam, KNK chủ yếu được phát thải từ quá trình đốt nhiên liệu và phát thải tức thời trong khai thác, vận chuyển. Trong đó, hoạt động đốt nhiên liệu xảy ra phổ biến ở các ngành sản xuất điện; công nghiệp và xây dựng; giao thông vận tải; thương mại/dịch vụ; dân dụng; nông nghiệp/lâm nghiệp/thủy sản và một số ngành khác như gia dụng, nông nghiệp và dịch vụ thương mại. Lượng phát thải KNK từ sự phát triển năng lượng phụ thuộc chủ yếu vào mức tăng trưởng kinh tế và dân số [12]. Trong đó, đáng lưu ý là hoạt động trong lĩnh vực năng lượng do sự phát triển của các ngành nghề năng lượng đều liên quan tới nhu cầu của người dân.
Phát thải do phát tán KNK chủ yếu do khai thác than, dầu, khí và rò rỉ khí. Trong đó, KNK từ quá trình đốt nhiên liệu chiếm tỷ trọng khoảng 85 – 90%. Trong các loại khí nhà kính bao gồm CO2, CH4, N2O và NOx thì CO2 chiếm tỷ lệ cao nhất [12]. Vấn đề lớn nhất mà Việt Nam gặp phải khi cần gia tăng sử dụng nhiên liệu hóa thạch để sản xuất năng lượng phục vụ cho sự phát triển của kinh tế xã hội đó là sự gia tăng phát thải KNK và dần khiến cho nguồn nhiên liệu hóa thạch trong nước trở nên khan hiếm.
Đây là những hệ lụy mà Việt Nam đang và cần tiến hành nghiên cứu, tìm giải pháp thay thế và khắc phục. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác giảm phát thải KNK toàn cầu và mức độ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, Việt Nam đã tiến hành kiểm kê KNK trong khuôn khổ dự án "Tăng cường năng lực kiểm kê Quốc gia KNK tại Việt Nam". Theo dữ liệu ở Bảng 1.2, trong năm 2010, tổng lượng phát thải 6 KNK tại Việt Nam là 246,8 triệu tấn CO2 tương đương, trong đó phát thải KNK do sử dụng năng lượng chiếm tới 141,1 triệu tấn CO2 tương đương. Trong lĩnh vực năng lượng, điện năng là lĩnh vực quan trọng nhất cho mọi hoạt động của đô thị, tuy nhiên đây cũng chính là lĩnh vực phát thải KNK nhiều nhất do sử dụng nhiều nguồn nhiên liệu hóa thạch, đặc biệt là ngành nhiệt điện than.
Cụ thể hơn, phát thải KNK trong lĩnh vực năng lượng bao gồm phát thải từ quá trình đốt nhiên liệu và phát thải do phát tán trong quá trình khai thác, vận chuyển nhiên liệu [16]. Phát thải KNK do đốt nhiên liệu được chia theo các ngành công nghiệp. Trong đó, phát thải nhiều nhất là các ngành công nghiệp năng lượng (41,1 triệu tấn), công nghiệp sản xuất và xây dựng (38,1 triệu tấn). Và dựa theo bảng thống kê phát thải KNK do đốt nhiên liệu năm 2010 [3], ta thấy rằng hàm lượng khí CO2 là lớn nhất trong tất cả các loại KNK.
Và theo đà tăng trưởng của ngành năng lượng tại Việt Nam, tổng mức phát thải năng lượng ước tính tới năm 2030 sẽ tăng hơn 4,5 lần so với tổng mức phát thải vào năm 2010 và đạt con số là 675,4 triệu tấn CO2 tương đương.2: Phát thải KNK từ ngành năng lượng trong năm 2010 và dự báo cho năm 2020 và 2030 Nhóm nguồn phát thải khí nhà kính 2010 2020 2030 (MtCO2tđ) (MtCO2tđ) (MtCO2tđ) 1. Tổng mức phát thải năng lượng 141,2 389,2 675,4 1A. Đốt nhiên liệu 124,3 355,7 620,3 1A1. Các ngành công nghiệp năng lượng 41,1 171,3 404,4 1A2.
Ngành chế tạo và xây dựng 38,1 69,3 92,5 1A3. Thương mại/ Dịch vụ 3,3 8,4 12,1 1A4b. Nông nghiệp/ lâm nghiệp/ ngư nghiệp 1,6 2,3 2,9 1B. Phát thải phát tán 16,9 33,5 55,1 1B1.
Nhiên liệu rắn 2,2 16,0 18,5 1B2. Dầu và khí tự nhiên 14,7 17,5 36,6 Nguồn: UNDP (2018) [19] Tại Việt Nam, phát thải KNK được chia theo lĩnh vực gồm phát thải xét theo quá trình đốt nhiên liệu và phát thải do phát tán. Trong đó quá trình đốt nhiên liệu 7 của ngành công nghiệp năng lượng có lượng phát thải CO2 lớn nhất so với các ngành khác với 40,9 triệu tấn CO2 [3] [11] [13]. Đối với phát thải phát tán năm 2010, tổng lượng phát thải KNK là 16,8 triệu tấn CO2 tương đương, trong đó phát thải từ khai thác than (hầm lò và lộ thiên) là 2,2 triệutấn và từ khai thác dầu, khí đốt tự nhiên là 14,7 triệu tấn [3] [11].3: Phát thải KNK năm 2010 trong các tiểu lĩnh vực của lĩnh vực năng lượng Đơn vị: nghìn tấn CO2tđ Nguồn phát thải Tổng Tỷ lệ (%) Đốt nhiên liệu 124.275,0 88,03 Công nghiệp năng lượng 41.057,9 29,08 Công nghiệp sản xuất và xây dựng 38.077,6 26,97 Giao thông vận tải 31.817,9 22,54 Thương mại/ dịch vụ 3.097,6 5,03 Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 1.630,8 1,16 Sử dụng mục đích phi năng lượng 1.895,8 11,97 Khai thác than 2.243,1 1,59 Dầu và khí đốt tự nhiên 14.170,8 100 Nguồn: JICA (2017) [11] Phát thải của ngành công nghiệp năng lượng chiếm tỷ lệ lớn trong tất cả các ngành sử dụng năng lượng.