Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm trong nghiên cứu 1.Nhân lực Khái niệm nhân lực chỉ sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.Nhân lực y tế Nhân lực y tế: Là một thành phần cơ bản và quan trọng trong 6 yếu tố đầu vào của hệ thống y tế. NLYT đóng vai trò quyết định và quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân [11]. Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”.
Như vậy, NLYT bao gồm BS, ĐD, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên y, dược sỹ và những người khác làm trong ngành y tế. Trong bệnh viện, đội ngũ chủ lực chủ yếu là BS và ĐD với các công việc vất vả và đòi hỏi sự bền bỉ, chính xác và tập trung cao độ, thường xuyên trực đêm, hoặc làm việc vào ngày nghỉ, ngày lễ Tết và thường xuyên phải tiếp xúc với nguồn bệnh, vi khuẩn, thậm chí với cả tử thi.3 KLCV và nhu cầu nhân lực 1.Khối lượng công việc: là số công việc mà 01 người được dự kiến làm trong một thời gian nhất định [24]. KLCV của NVYT là toàn bộ các công việc, các hoạt động nhằm cung cấp các dịch vụ chuyên môn y tế và các dịch vụ hỗ trợ việc thực hiện các dịch vụ chuyên môn y tế mà NVYT có thể thực hiện được trong một năm hoặc một thời gian nhất định nào đó. KLCV quá mức có thể dẫn đến vấn đề hiệu suất làm việc của con người như thực hiện nhiệm vụ chậm hơn và xảy ra lỗi hoặc sai lầm, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công việc, sự hài lòng của khách hàng và người lao động.
Trong khi đó, KLCV thấp có thể dẫn đến sự nhàm chán và giảm sự tỉnh táo [23] 1. Một số khái niệm cơ bản trong KLCV 5 Hoạt động DVYT: Tất cả các thành viên của một hạng mục nhân sự đều thực hiện hoạt động này và có số liệu thống kê sẵn có cho hoạt động này. Hoạt động hỗ trợ: tất cả các thành viên của 1 hạng mục nhân sự đều thực hiện hoạt động này nhưng không có số liệu thống kê sẵn. Hoạt động bổ sung: chỉ 1 số thành viên cụ thể (không phải là tất cả) của 1 chức danh nghề nghiệp thực hiện hoạt động này.
Chức năng và nhiệm vụ của quản lý nguồn nhân lực 1.Chức năng của quản lý nguồn nhân lực Các hoạt động chính của Quản trị nguồn nhân lực tập trung vào 4 lĩnh vực sau đây: 1. Chức năng thu hút, tuyển chọn và bố trí nhân sự Chức năng này nhằm đảm bảo đủ số lượng nhân viên với trình độ, kỹ năng, phẩm chất phù hợp với công việc và bố trí họ vào đúng công việc để đạt được hiệu quả cao nhất. Chức năng đào tạo và phát triển Nhóm chức năng này nhằm nâng cao trình độ lành nghề, các kỹ năng và các nhận thức mới cho nhân viên. Đào tạo, phát triển hướng đến nâng cao các giá trị của tài sản nhân lực cho doanh nghiệp nhằm tăng khả năng cạnh tranh cũng như tăng khả năng thích ứng với môi trường đầy thay đổi.
Chức năng duy trì và sử dụng nguồn nhân lực Chức năng này nhằm vào việc sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực. Chức năng này hướng đến sự phát huy tối đa khả năng làm việc của nhân viên đồng thời tạo ra sự gắn bó trung thành với tổ chức. Các chính sách liên quan đến động viên đúng đắn sẽ góp phần nâng cao tinh thần và nhiệt tình cho nhân viên. Chức năng thông tin và dịch vụ về nhân lực (Quan hệ lao động) Chức năng này nhằm cung cấp các thông tin có liên quan đến người lao động và thực hiện các dịch vụ mang tính phúc lợi cho nhân viên.
Các thông tin về lao động bao gồm các vấn đề như: chính sách tiền lương, tiền công, thông tin về tuyển dụng, đề bạt, đào tạo, đánh giá kết quả công việc, các thông tin liên quan đến quan hệ lao động hay các thông tin về an toàn và bảo hộ lao động… Thực hiện tốt chức 6 năng này nhằm thỏa mãn sự hài lòng cho nhân viên. Họ cảm thấy được tôn trọng khi mà không có gì là bí mật đối với họ. Chức năng này còn bao gồm các dịch vụ có tính phúc lợi cho nhân viên như: chương trình chăm sóc y tế, bảo hiểm, phân chia phúc lợi. Các chương trình như vậy là động lực cho nhân viên gắn bó lâu dài với tổ chức.
Quản lý nguồn nhân lực ngày nay gắn liền với mọi tổ chức bất kể cơ quan tổ chức đó có bộ phận Quản trị nguồn nhân lực hay không. Quản trị nguồn nhân lực là khó khăn phức tạp hơn quản trị các yếu tố khác của quá trình sản xuất vì mỗi con người là một thế giới rất riêng biệt họ khác nhau về năng lực làm việc, về hoàn cảnh gia đình, tình cảm, tham vọng… và luôn vận động thay đổi. Điều này đòi hỏi quản trị con người phải là một khoa học và nghệ thuật. Nghĩa là phải sử dụng khoa học quản trị về con người một cách uyển chuyển phù hợp cho những tình huống cụ thể trong môi trường cụ thể.
Nhiệm vụ của Quản lý nguồn nhân lực Để thực hiện các chức năng trên, nhiệm vụ của quản lý nguồn nhân lực (QLNNL) bao gồm: (1) Hoạch định và dự báo nhu cầu nhân sự; (2) Thu hút, tuyển mộ nhân viên; (3) Tuyển chọn nhân viên; (4) Huấn luyện, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; (5) Bố trí sử dụng và quản lý nhân viên; (6) Thúc đẩy, động viên nhân viên; (7) Trả công lao động; (8) Đánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên; (9) An toàn và sức khỏe; (10) Thực hiện giao tế nhân sự; (11) Giải quyết các tương quan nhân sự (các quan hệ lao động như: khen thưởng, kỷ luật, sa thải, tranh chấp lao động …). Xác định KLCV là một phương pháp xác định thời gian, nỗ lực và những nguồn lực cần thiết để thực hiện công việc của đơn vị dẫn đến xác định nhu cầu cần thiết về nguồn nhân lực cả về chất lượng, số lượng và phát triển những nguồn lực này để đạt được mục tiêu và chiến lược mà tổ chức muốn đạt được ở các vị trí công việc khác nhau [21]. Mối quan hệ này được cụ thể qua sơ đồ sau: Những hoạt động Khối lượng Nhu cầu của cơ quan/tổ chức công việc lao động 7 Hoàn thành tốt xác định KLCV sẽ mang lại lợi ích lớn trong công tác quản lý nhân lực ở các cơ quan, như giúp lãnh đạo hiểu rõ hơn KLCV, mức độ nghiêm trọng của vấn đề về nguồn lực, cung cấp thông tin cho việc ra quyết định, cung cấp bằng chứng để xác định khi giảm hoặc tăng nhu cầu lao động. Tổng quan tài liệu về bộ công cụ có liên quan đến định mức nhân sự tại các đơn vị y tế.
Các văn bản, chính sách có liên quan - Ngày 5/6/2007 Bộ Nội vụ và Bộ Y tế ban hành Thông tư liên tịch 08/2007/BNV-BYT Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các CSYT nhà nước. Thông tư hướng dẫn xây dựng định mức biên chế đối với các CSYT có chức năng khám, chữa bệnh dựa vào số lượng giường bệnh kế hoạch và công suất sử dụng giường bệnh trung bình của 3 năm gần nhất. Cách tính này do vậy không còn phù hợp để xác định được cơ cấu nhân lực từng khoa, nhất là định biên 1- 1,2 biên chế/ giường bệnh [4]. - Bộ Y Tế đã có dự thảo thông tư liên tịch ban hành tháng 05/2016 về “Hướng dẫn danh mục khung vị trí việc làm, định mức số lượng người làm việc trong các CSYT công lập”.
Tuy nhiên dự thảo của thông tư này cũng định mức số lượng người làm việc ở các cơ sở khám, chữa bệnh đa khoa, đạt tiêu chuẩn hạng I là 1,45 – 1,55 nhưng chưa nêu rõ số lượng nhân sự đối với từng dịch vụ điều trị, chăm sóc cho người bệnh cần phải bố trí bao nhiêu nhân sự là đủ [8]. - Ngày 8/5/2012 Chính phủ ban hành Nghị định 41/2012 NĐ-CP quy định về vị trí việc làm trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Nghị định quy định nguyên tắc, căn cứ, phương pháp, trình tự, thủ tục xác định vị trí việc làm và thẩm quyền quản lý vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập [13]. - Thông tư số 14/2012/TT-BNV quy định Đề án vị trí việc làm của đơn vị sự nghiệp công lập được phê duyệt ổn định từ 01 - 03 năm.
Trước khi Nghị định số 41/2012/NĐ-CP và Nghị định 36/2013/NĐ-CP có hiệu lực thì việc xác định, phân bổ biên chế hành chính hàng năm tại các đơn vị thuộc Bộ, ngành, tỉnh. Số lượng 8 biên chế hiện tại phân bổ cho các đơn vị gần như không phải là số lượng biên chế các đơn vị xác định trong Đề án vị trí việc làm theo quy định tại Nghị định số 41/2012/NĐ-CP và Nghị định số 36/2013/NĐ-CP. Như vậy, trong giai đoạn 2014 - 2016, việc các đơn vị hành chính và sự nghiệp (nhất là các đơn vị ổn định về chức năng, nhiệm vụ) xây dựng Đề án vị trí việc làm, nếu có đề xuất tăng biên chế hoặc số lượng người làm việc thì cũng không phù hợp với Kết luận số 64-KL/TW. Hiện nay, có nhiều cơ sở y tế chưa xây dựng được bản định mức lao động (đối với các công việc có thể tính định mức) hoặc đối với những công việc chuyên môn, nghiệp vụ nhưng đòi hỏi phải có sự tham gia, phối hợp của nhiều người thì chưa có bản phân tích, mô tả công việc chi tiết để đánh giá khối lượng, mức độ, tính chất phức tạp của công việc.
Việc xác định số lượng vị trí việc làm và số lượng người làm việc thuộc nhóm lãnh đạo, quản lý tương đối rõ ràng vì đã được quy định cụ thể trong các văn bản về tổ chức, bộ máy của cơ quan, đơn vị. Khó khăn nhất là việc xác định số lượng người làm việc tương ứng với vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ. Về cơ bản, vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ thường là vị trí việc làm do nhiều người đảm nhiệm, vì vậy, để xác định bao nhiêu người làm việc để phù hợp với vị trí việc làm là bài toán khó cho các nhà quản lý. Ngày 18 tháng 11 năm 2016, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 6858/QĐ-BYT về việc ban hành Bộ tiêu chí chất lượng Bệnh viện để đạt mức 3 trong tiêu chí bệnh viện cần bảo đảm và duy trì ổn định số lượng nhân lực.