Đặt vấn đề Thành phố Hồ Chí Minh thuộc danh sách 10 Thành phố trên thế giới bị đe dọa bởi mực nước biển dâng cao. Theo dự tính của Liên Hiệp Quốc thì đến năm 2100 nước biển sẽ dâng cao 1,0 m và có tới gần 20% diện tích của các quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong đó có các quận đã sát nhập thành Thành phố Thủ Đức sẽ bị ngập trong nước biển. Ngoài ra, do tác động của biến đổi khí hậu, đã xuất hiện những trận mưa kéo dài và có lượng mưa từ 100 – 200 mm gây ra ngập lụt với khoảng hơn 80 điểm ngập ở Tp. HCM và Tp.
Trung bình mực nước ngập cao khoảng 0,2 m. Mặc dù Thành phố Thủ Đức đang được hướng tới là một khu đô thị thông minh và đáng sống. Nhưng trong những năm qua, các quận nằm trong Tp. Thủ Đức đang phải đối mặt với nguy cơ ngập lụt cao do tốc độ đô thị hóa cao khiến cho địa hình của chúng đã biến đổi khá nhiều.
Bê tông hóa mặt đường, các ao hồ, kênh rạch nhỏ bị san lấp để xây dựng quy hoạch đã gây khó khăn cho việc tiêu thoát nước vào mùa mưa, tình trạng ngập ở khu vực sẽ trở nên phức tạp và gây thiệt hại về kinh tế xã hội cũng như môi trường sống của người dân. Vì vậy, trong quá trình quy hoạch Tp. Thủ Đức cần phải có sự kiểm soát đánh giá nguy cơ và rủi ro về vấn đề ngập lụt một cách toàn diện để các cơ quan, các cấp ban ngành dựa trên đó mà tính toán, xét duyệt những phương án thích hợp nhất cho việc chống ngập và xây dựng Thành phố trong tương lai. Cho nên, đề tài “Đánh giá nguy cơ và rủi ro ngập Thành phố Thủ Đức” là vấn đề cần thiết và mang tính thực tiễn.2 Tình hình nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về đánh giá nguy cơ và rủi ro do ngập lụt Các rủi ro, thiệt hại tiêu cực từ ngập lụt ở các khu vực đô thị ngày càng gia tăng và đến mức độ nghiêm trọng trong những năm qua trên thế giới.
Số lượng tổn thất do Giới thiệu chung 2 sự kiện này gây ra cũng tăng lên cấp số nhân, đặc biệt là các khu vực đô thị hóa cao, nơi chịu tác động của việc sử dụng nhiều đất và biến đổi khí hậu. Trên thế giới, vấn đề rủi ro, tổn thất do ngập lụt được nghiên cứu theo nhiều phương pháp tùy vào tốc độ phát triển và quy mô khu vực nghiên cứu. Có thể liệt kê một số nghiên cứu của các nước như: Bài báo nghiên cứu xây dựng bản đồ rủi ro do ngập lụt bằng GIS ở lưu vực Selangor (Malaysia) của Hassan và các cộng sự (2006). Bài nghiên cứu sử dụng công cụ GIS từ việc phát triển mô hình thủy văn, thủy động lực học, mô hình 3D và thành lập bản đồ nguy cơ ngập lụt [1].
Nghiên cứu ứng dụng mô hình SOBEK để đánh giá thiệt hại do ngập lụt ở Hà Lan của Jonkman và các cộng sự (2008). Bài báo sử dụng mô hình thủy động lực học kết hợp dữ liệu kinh tế, thông tin sử dụng đất và dữ liệu về đặc điểm ngập lụt và các khả năng thiệt hại theo giai đoạn. Quy mô đánh giá thiệt hại thay đổi từ một khu vực bị lũ lụt cụ thể trên lưu vực sông hoặc vùng ven biển cho đến toàn bộ nền kinh tế của đất nước [2]. Nghiên cứu ước tính tổn thất do ngập lụt trong lĩnh vực thương mại ở Đức của Heidi Kreibich và các cộng sự (2010).
Các yếu tố xác định tổn thất tiềm năng được phân tích dựa trên mô hình ước tính tổn thất do lụt cho lĩnh vực thương mại FLEMOS. Tổn thất được ước tính tùy thuộc vào độ sâu của nước, lĩnh vực và quy mô doanh nghiệp, công ty cũng như các biện pháp phòng ngừa và ô nhiễm đã có sẵn. Mô hình có thể được áp dụng cho quy mô vi mô, tức là cho các điểm sản xuất đơn lẻ cũng như cho các đơn vị sử dụng đất ở quy mô trung bình, do đó cho phép ứng dụng của nó trên toàn quốc [3]. Nghiên cứu phương pháp đánh giá nhanh thiệt hại do ngập lụt ở Bang Kelantan (Malaysia) bằng sử dựng mô hình thống kê không gian của Abdul Hamid Mar Iman và Edlic Sathiamurthy (2016).
Bài báo chọn một khu vực bị ảnh hưởng nặng, GIS được sử dụng để lập bản đồ vị trí được tham chiếu. Nguy cơ lũ lụt được mô hình hóa và xếp chồng lên thiệt hại tài sản ước tính. Kỹ thuật không gian GIS sau đó đã được sử dụng Giới thiệu chung 3 để ước tính thiệt hại do lũ gây ra. Tuy nhiên, nghiên cứu này không đánh giá toàn bộ thiệt hại của các tài sản mà chỉ tập trung vào phương pháp luận đánh giá thiệt hại để chỉ ra cách thức thực hiện [4].2 Các nghiên cứu của tác giả nước ngoài về đánh giá nguy cơ và rủi ro ngập lụt đô thị ở Việt Nam Ngập lụt đô thị không chỉ là mối quan tâm toàn cầu, mà còn là một trong những hiểm họa chính ở Việt Nam thường xuyên gây ra thiệt hại nặng về kinh tế, cơ sở hạ tầng và ảnh hưởng đến đời sống xã hội.
Trong lĩnh vực nghiên cứu về ngập lụt ở Việt Nam thì các nghiên cứu của các chuyên gia nước ngoài thường là những nghiên cứu dựa trên sự khảo sát, thống kê dữ liệu và tính toán mô phỏng ngập ở khu vực dân cư bị tổn thương bởi ngập lụt do tốc độ đô thị hóa và sự biến đổi khí hậu. Có thể kể đến nghiên cứu thống kê khảo sát thiệt hại sau ngập ở Hà nội của Dushmanta, Fahmida, Srikatha (2005) [5]; phân tích quản lý rủi ro ngập bằng nguyên tắc RDM ở TPHCM của Robert Lempert và các cộng sự (2013) [6]; Dự án nghiên cứu chống ngập khu vực TPHCM của Haskoning Netherland (2013) [7], [8], [9]; nghiên cứu mô phỏng nguy cơ ngập bằng mô hình Flo – 2D ở Huế của Dengrui Mu, Pingping Luo và các cộng sự (2020) [10].3 Các nghiên cứu kết hợp của tác giả trong và ngoài nước về ngập lụt ở Thành phố Hồ Chí Minh Bài báo của nhóm tác giả Ruben Dahm, Ferdinand Diermanse, Hồ Long Phi (2013) đã dùng mô hình xác suất thống kê trận lũ và mô hình thủy động lực học 1D để đánh giá nhiều chiến lược để tăng khả năng chống chịu lũ dài hạn ở khu vực đô thị hóa TPHCM [11]. Dự án nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp phân tích hệ thống thông tin địa lý (GIS) dựa trên dữ liệu thứ cấp về hồ sơ lũ lụt, phân bố dân cư, phát triển tài sản và mô phỏng lũ lụt do nhóm tác giả Phan N.Duy, Lee Chapman, Miles Tight, Phan N. Thuong thực hiện năm 2017 [12].
Giới thiệu chung 4 Nhóm tác giả Chen – Fa Wu, Szu – Hung Chen, Ching- Wen Cheng và Lưu Văn Thông Trác (2021) đã nghiên cứu áp dụng khung đánh giá rủi ro lũ lụt đi đôi với thiên nhiên và con người trong một trường hợp cho Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam nhằm mục đích thiết lập một bản đồ rủi ro lũ lụt trên toàn thành phố để cung cấp thông tin cho việc quản lý rủi ro trong thành phố và giải quyết vấn đề khí hậu tại địa phương. Bản đồ tính dễ bị tổn thương do lũ lụt được tạo dựa trên đánh giá tài liệu và khảo sát xã hội được các chuyên gia cân nhắc về mức độ ưu tiên bằng cách sử dụng Phương pháp Fuzzy Delphi và Quy trình mạng phân tích [13].4 Các nghiên cứu của tác giả trong nước Nghiên cứu về vấn đề ngập úng và thoát nước ở TPHCM của tác giả Hồ Long Phi (2007), bài viết tổng hợp các dữ liệu thống kê ngập từ năm 1990 – 2000 và ứng dụng mô hình SWMM (Storm Water Management Model) để mô phỏng thủy lực, đưa ra những lý giải về tình trạng ngập úng và đánh giá khả năng tiêu thoát nước của các công trình tiêu thoát trên địa bàn Thành phố. Từ đó đưa ra một số đề xuất có tính định hướng để giải quyết vấn đề [14]. Bài báo của Trần Thị Mỹ Hồng và PGS.TS Lê Song Giang (2014) trình bày một mô hình tích hợp 1D/1D + 2D cho tính toán chi tiết dòng chảy thoát nước trên lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè (TPHCM) [15].
Tác giả Nguyễn Quang Kim (2014) đã nghiên cứu tính toán đánh giá rủi ro ngập cho 3 vùng bằng phương pháp mô phỏng các kịch bản rủi ro với : Vùng I là toàn bộ khu vực bờ hữu sông Sài Gòn – Nhà Bè, bao gồm khu vực nội thành cũ. Vùng II bao gồm toàn bộ khu vực ngã ba sông Đồng Nai – Sài Gòn. Vùng III bao gồm toàn bộ khu vực bờ tả sông Nhà Bè – Soài Rạp [16]. Trần Thị Như Vân (2015) áp dụng phương pháp tích hợp để xây dựng bản đồ thể hiện mức độ ngập và phạm vi ảnh hưởng trong khu vực nội thành TPHCM với tần suất xuất hiện khác nhau.
Từ đó ước tính thiệt hại hàng năm khi xảy ra ngập [17]. Nhóm tác giả Lê Xuân Bảo, Mai Văn Công (2016) cũng áp dụng mô hình MIKE 11 và MIKE FLOOD kết hợp với ArcGIS xác định rủi ro do ngập ứng dụng cho Giới thiệu chung 5 dự án chống ngập khu vực TPHCM giai đoạn 1. Mức độ thiệt hại chia theo loạt sử dụng đất và đề ra tiêu chuẩn an toàn hợp lý cho công trình chống ngập [18]. Nhóm tác giả Lê Hữu Lợi, Bùi Việt Hưng (2017) nghiên cứu xác định tổn thất kinh tế do ngập triều và mối quan hệ giữa chi phí thiệt hại với độ sâu ngập của các hộ gia đình; khu buôn bán; xí nghiệp thông qua việc phân tích tổng hợp băng phiếu phỏng vấn các đối tượng khảo sát tại khu vực Quận 7, TPHCM [19].
Trần Tuyết Vân (2017) ứng dụng mô hình F28 mô phỏng các phương án ngập và tính toán đánh giá thiệt hại do ngập lụt mà TPHCM phải đối mặt [20]. Bài NCKH của PGS. TS Lê Song Giang (2017) nghiên cứu đề xuất chiến lược quản lý ngập lụt thích hợp trên cơ sở các dự án đã và đang triển khai ở TPHCM bằng phương pháp ứng dụng mô hình F28, mô hình tích hợp 1D; 2D và xây dựng bản đồ rủi ro và đánh giá thiệt hại do ngập. Từ đó, xác định chiến lược chống ngập hợp lý và đề xuất lộ trình đầu tư chống ngập một cách khoa học, phù hợp với nguồn vốn huy động [21].