CHƯƠNG 1 TÔNG QUAN I. LÀNG NGHÊ - ĐẶC ĐIẺM MÔI TRƯỜNG VÀ ĐIÈU KỆN LAO ĐỘNG Làng nghề là một khu vực tương đối riêng biệt, tập trung những người chuyên làm một nghề, một công việc thủ công đặc trưng. Sản phẩm và phương thức sản xuất của các làng nghề khả phong phú, đa dạng với hàng trăm loại ngành nghề khác nhau [37]. Loại hình và quy mô doanh nghiệp làng nghề * Căn cứ vào đối tượng, nguyên liệu và công nghệ sản xuất: có thể chia thành 3 nhóm ngành nghề: - Chế biến nông lâm thủy sản: chiếm 1,99% tổng số hộ phi nông nghiệp.
- Tiểu thủ công nghiệp và xây dựng: 3,66%. - Dịch vụ sản xuất và đời sống: 5,64%. * Dựa vào sản phẩm và phương thức sản xuất chính đểphân loại: có 6 loại làng nghề: - Làng nghề thủ công, làm ra các mặt hàng sử dụng thường nhật như dao kéo, mây tre đan gia dụng, chiếu. Đặc điểm của các làng nghề loại này là sản xuất thủ công bằng tay và các công cụ đơn giản.
Do chi phí ban đầu thấp nên loại hình này rất phổ biến. - Làng nghề thủ công mỹ nghệ-, làm ra các mặt hàng có giá trị về văn hóa và trang trí như đồ mỹ nghệ chạm khảm, chạm khắc tượng gỗ, đá, đồ thêu ren và các đồ mỹ nghệ vàng bạc, dệt thảm. - Làng nghề công nghiệp, sản xuất các hàng hóa thành phẩm và bán thành phẩm như sản xuất giấy, dệt, may mặc, gốm sứ, tái chể nhựa, kim loại, thuộc da. - Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm: che biến các loại nông sản như xay xát, sản xuất miến dong, bún, bánh, sản xuất bia, giết mố vật nuôi, nấu rượu, che biến hoa quả.
5 - Làng nghề sản xuất và cung ứng nguyên vật liệu: sản xuất vật liệu xây dựng như gạch, ngói, vôi, cát. - Làng nghề buôn bán và dịch vụ: Thực hiện bán buôn, bán lẻ và cung cấp dịch vụ có tính chất truyền thống. Doanh nghiệp (DN) làng nghề khá đa dạng, bao gồm đủ loại hình thức tổ chức, đó là doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, DN tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, các hộ sản xuất và hộ gia đình. Gần đây, cơ cấu loại hình DN làng nghề đã chuyển đổi mạnh theo cơ chế thị trường.
Hộ cá thể chuyên nghiệp, xí nghiệp và công ty tư nhân tăng lên, còn các loại hình DN nhà nước giảm đi. Đa số DN làng nghề là các hộ thủ công tiểu chủ, hộ cá thể và gia đình. Chính các hộ này là nòng cốt, là thành phần chính của làng nghề [37], [40]. Với hình thức "hộ gia đình", gần như tất cả các thành viên trong hộ đều được huy động vào những công việc khác nhau của quá trình sản xuất.
Tuỳ nhu cầu công việc, hộ gia đình có thể thuê mướn lao động thường xuyên hoặc lao động thời vụ. Sản xuất kinh doanh theo hộ gia đình đảm bảo được sự gắn bó giữa quyền lợi và trách nhiệm, huy động được mọi lực lượng có khả năng lao động tham gia quá trình sản xuất, tận dụng thời gian và nhu cầu đầu tư thấp. Thông thường các hộ có xưởng sản xuất nằm ngay ưong khuôn viên gia đình, nhà ở cũng có khi là nơi sản xuất. Nói chung hình thức này phù hợp với quy mô nhỏ, sản xuất nhỏ của nông dân và thợ thủ công.
Quy mô ấy cũng rất hạn chế trong việc đầu tư trang thiết bị và đổi mới công nghệ. Hình thức "hộ tiểu chủ" được phát triển ở các làng nghề có trình độ tập trung sản xuất tương đối cao. Như làng giấy Phong Khê, làng rèn Đa Hội (Hà Bắc) có hàng chục hộ tiểu chủ với tiềm lực kinh te khá, đầu tư hàng tỉ đồng mua sắm thiết bị, xây dựng xưởng. Ngoài việc sử dụng lao động gia đình, các hộ này còn thuê mướn lao động trong và ngoài làng.
Các hộ tiểu chủ này còn đảm nhận việc bao tiêu sản phẩm cho một số hộ gia đình trong làng nghề. Đặc điểm các làng nghề ở Việt Nam : [37]: - Lực lượng lao động đa sổ là dân cư trong làng, hoặc thuê mướn vụ việc. - Công nghệ sản xuất đơn giản, đôi khi thô sơ, cần nhiều sức lao động. 6 - Đơn vị sản xuất cơ bản là hộ gia đình, hoặc nhóm hộ gia đình.
- Do có nhiều hộ gia đình cùng làm một nghề nên tính chuyên môn hóa và phụ thuộc lẫn nhau trong các làng nghề rất rõ rệt, tạo nên tính chất riêng biệt của làng nghề dẫn tới sự độc quyền trong sản phẩm. Tính chất phát thải của các loại làng nghề Đi đôi với việc tăng sản lượng hàng hóa, sự phát triển làng nghề nông thôn đã tạo ra một khối lượng lớn các chất thải. Do có sự đa dạng của các nguồn nguyên liệu sản xuất đầu vào nên cũng có nhiều loại chất thải đầu ra. Nhiều loại chất thải với sổ lượng lớn đã gây nguy hại lớn tới môi trường, ảnh hưởng tới sức khỏe của NLĐ và cộng đồng.
Tùy theo loại hình và quy mô sản xuất, mức độ và tính chất ô nhiễm cũng khác nhau. * Làng nghề thủ công mỹ nghệ: - Chất thải thường là chất rắn, khí. - Ví dụ làng nghề mây tre đan, trong công đoạn sấy thường dùng diêm sinh đã tạo ra khí thải độc hại. Để sản xuất 1 tấn mây tre, qua 5 lần sấy cần 10 kg diêm sinh.
Riêng làng nghề chể biến mây tre đan xã Bình Minh (Hưng Yên) hàng năm sử dụng khoảng 3,5 tấn diêm sinh để hun sấy, xông nguyên liệu đã làm cho không khí bị ô nhiễm, tạo nên một mùi rất khó chịu trong làng. * Làng nghề công nghiệp: - Chất thải của các làng nghề này rất đa dạng, như chất thải khí (bụi, khí độc) tạo ra trong quá trình phơi, sấy khô, đốt ở làng nghề gốm sứ; do quá trình nấu chảy nguyên liệu ở làng nghề tái chế chì, tái chế nhôm; chất thải lỏng và rắn do quá trình xử lý, rửa nguyên liệu tái che ở làng nghề tái che kim loại, thuộc da. - Ví dụ, trong làng nghề tái chế nhựa, nguyên liệu chính là các vỏ bình ắc quy hỏng, các loại vỏ chai, lọ bằng nhựa, các túi, mảnh nilon, vỏ dây điện hỏng. được thu thập từ rất nhiều nguồn, trong đó rất nhiều loại chứa các hóa chất độc hại, các dung môi hữu cơ, thuốc trừ sâu diệt cỏ.
và việc súc rửa, làm sạch chúng đã thải ra một lượng lớn chất thải làm ô nhiễm môi trường nước, nhiều ao hồ bị ô nhiễm rất nặng không thể tiếp tục sử dụng. 7 - Làng nghề thuộc da đã thải ra một lượng lớn thịt, mỡ, lông thối rữa; thêm vào đó là một lượng muối, vôi, hóa chất khác (có Cr) đi vào nguồn nước thải gây mùi hôi thối, nước có màu đen, đặc sánh, phát sinh nhiều ruồi, muỗi. Ước tính cứ thuộc 1 tấn da tươi sẽ thải ra khoảng 80- 100 m3 nước thải. - Các tác nhân gây ô nhiễm không khí chính trong các làng nghề tái chế kim loại chủ yếu là các khí độc như co, co2, NO2, so2.
phát thải trực tiếp từ các lò đúc nhôm, chì do nguyên liệu hỏa thạch bị đốt cháy không qua quá trình xử lý được thải trực tiếp vào bầu khí quyển. * Làng nghề chế biến lương thực thực phẩm: - Chất phế thải trong nghề chế biến lương thực, thực phẩm rất đa dạng. - Ví dụ: Sản xuất 1 triệu tấn đường sẽ tạo ra 30 triệu tấn ngọn, lá, gốc mía; 1 triệu tấn bã mía; 0,5 triệu tấn rì đường; 0,1 triệu tấn bã lọc. Sản xuất 100 nghìn tấn nhân điều tạo ra 1 triệu tấn thịt quả điều và vỏ hạt điều có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, là môi trường rất thuận lợi cho vi sinh vật phát triển, gây ô nhiễm môi trường.
Xay xát 100 tấn thóc cần giải quyết 10 nghìn tấn trấu, 1 nghìn tấn cám. Nuôi 1 nghìn tấn lợn thịt tạo ra 10- 20 nghìn tấn phân, 20- 30 nghìn mét khối nước tiểu, 50- 200 nghìn mét khối nước rửa chuồng trại. Sản xuất 1 nghìn tấn tinh bột tạo ra 3-4 nghìn tấn bã tươi. Nhìn chung, phụ phế thải trong nghề chế biến lương thực, thực phẩm là những chất hữu cơ dễ bị phân hủy, gây ô nhiễm môi trường, tạo mùi khó chịu, nếu không được xử lý tốt [5], * Làng nghề sản xuất và cung ứng nguyên vật liệu: - Thường tạo ra các chất thải rắn (xỉ than, gạch vỡ, gạch phồng.) và chất thải khí (bụi, HF, so2, co, NOx, F2.
- Ví dụ: làng nghề sản xuất vôi Duyệt Lễ (Hung Yên) hàng năm sử dụng hết khoảng 6000 tấn than, 100 tấn củi nhóm lò, 250 tấn bùn, 10 nghìn mét khối đá và như vậy đã thải vào môi trường một lượng lớn chất thải gây ô nhiễm. Tình hình ô nhiễm môi trường tại các làng nghề Trước kia, sản xuất làng nghề có quy mô nhỏ với công nghệ đơn giản và sản lượng thấp, môi trường xung quanh có thể đồng hóa được các chất thải. Ngày nay 8 sự gia tăng của sản xuất và tiêu thụ kèm theo những hạn chế của sản xuất quy mô nhỏ, vốn đầu tư ít nên việc áp dụng công nghệ khoa học còn hạn chế, nguyên liệu sản xuất rẻ tiền. đang bắt đầu vượt quá các khả năng đồng hóa của môi trường tự nhiên.
Các chất thải đang từng ngày, từng giờ gây ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sức khỏe cộng đồng. Ô nhiễm môi trường không khí Ô nhiễm môi trường không khí là khi ưong không khí có chất lạ hoặc có sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí gây tác động có hại hoặc gây ra sự khó chịu (sự tỏa mùi khó chịu, sự giảm tầm nhìn xa do bụi). Các chất gây ô nhiễm không khí bao gồm: - Các chất khí như so2, H2S, co, các oxit của nitơ (N2O, NO, NO2), các loại khí halogen (Clo, Brom.), các hợp chất Flo, các chất tổng hợp ét xăng, axit acetic. - Các phân tử nhỏ gây ô nhiễm không khí gồm các chất lơ lửng như: bụi lơ lửng, các phân tử cácbon, muội, khói, sương mù, phấn hoa.
- Các loại bụi nặng như: bụi đất đá, bụi kim loại (đồng, chì, sắt.) Trong các chất ô nhiễm trên, các tác giả trong và ngoài nước thường chọn khí so2, CO, NO2, bụi lơ lửng là chỉ điểm cho mức độ ô nhiễm không khí. Tại các làng nghề, con người gây ô nhiễm môi trường không khí do hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải và do sinh hoạt hàng ngày, trong đó nguồn gây ô nhiễm do sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là chủ yếu.